Top 3 bài Phân tích tác phẩm Hồn Trương Ba, da hàng thịt hay nhất

Bạn đang xem: Top 3 bài Phân tích tác phẩm Hồn Trương Ba, da hàng thịt hay nhất tại pgddttramtau.edu.vn

Đề bài: Phân tích đoạn trích Hồn Trương Ba, da hàng thịt của Lưu Quang Vũ để làm rõ tư tưởng, ý nghĩa phê phán của vở kịch.

Hồn Trương Ba, da hàng thịt được sáng tác theo hướng khai thác cốt truyện dân gian và chuyển tải những suy ngẫm về lẽ sống, hạnh phúc, kết hợp phê phán một số tiêu cực trong lối sống hiện nay. Câu chuyện dân gian gây kịch tính sau khi hồn Trương Ba nhập vào xác anh hàng thịt dẫn đến cuộc “tranh chấp” chồng của hai bà vợ, và bà Trương Ba đã thắng kiện đưa chồng về. Lưu Quang Vũ khai thác tình huống kịch mở đầu ở cuối truyện dân gian. Khi hồn Trương Ba được sống “hợp pháp” trong xác anh hàng thịt, mọi chuyện ngày càng trở nên phức tạp, để rồi cuối cùng đau khổ, tuyệt vọng, hồn Trương Ba không đành lòng phải cầu xin Dĩ Thích cho mình. hoàn toàn chết. Để chứa đựng những tình huống đó và giải quyết xung đột, Lưu Quang Vũ đã gửi gắm một triết lý sâu sắc về lẽ sống, lẽ làm người: cuộc đời thật đáng quý, nhưng không phải cứ sống hoài là được. Nếu sống vay mượn, sống chắp vá, thiếu sự hài hòa giữa vẻ đẹp tâm hồn, nhân cách và nhu cầu vật chất, con người sẽ chỉ gặp bi kịch. Cuộc đời mỗi người chỉ thực sự hạnh phúc, chỉ có giá trị khi được sống thật với chính mình, được sống tự nhiên trong một thể thống nhất. Đó là chủ đề tư tưởng chính của vở kịch.

Tài năng kịch của Lưu Quang Vũ được thể hiện ở nhiều mặt, trong đó nổi bật nhất là khả năng dựng cảnh, dựng lời thoại. Kịch mở ra ở những xung đột, mâu thuẫn bên ngoài và bên trong của nhân vật. Ngôn ngữ hành động và ngôn ngữ nội tâm được thể hiện sinh động, lời thoại thấm đẫm triết lý nhân sinh.

Đoạn trích có thể gọi là “Vượt qua nghịch cảnh” là cảnh cuối cùng, đúng vào lúc mâu thuẫn trung tâm của vở kịch lên đến đỉnh điểm. Sau mấy tháng sống trong tình trạng “trong một nẻo, ngoài một nẻo”, nhân vật hồn Trương Ba ngày càng xa lạ với bạn bè, người thân trong gia đình và chán ghét chính bản thân mình. Hồn Trương Ba cảm thấy mình không thể sống trong “bộ da” anh hàng thịt, không thể kéo dài “nghịch cảnh” mãi được. Linh hồn muốn tách khỏi thể xác cồng kềnh, thô lỗ. Ở trạng thái đó; Nhà văn đã sáng tạo khi tạo ra cuộc đối thoại giữa hồn và xác để rồi trước sự giễu cợt, trớ trêu của xác anh hàng thịt, hồn Trương Ba càng thêm đau khổ, bế tắc. Cách cư xử của những người thân trong gia đình càng khiến Linh tuyệt vọng hơn. Hồn Trương Ba thắp hương gọi Đế Thích, hai bên đang hàn huyên thì Cu Tí chết. Đế Thích đề nghị cho hồn rời xác anh hàng thịt về với xác Tí. Còn hồn Trương Ba, sau một “kiếp nạn” hết sức thơ ngây, tưởng tượng ra những “nghịch cảnh” khác khi sống trong thân xác một đứa trẻ, đã quyết đòi Tí sống chết cho trọn vẹn.

Thật là một “nghịch cảnh” trớ trêu. Lưu Quang Vũ đã tạo nên hai đối thoại độc đáo (đối thoại giữa hồn với xác và đối thoại giữa hồn với Đế Thích) và các đối thoại bổ trợ khác (hồn với vợ, với gái, với em dâu). đẩy mâu thuẫn nội tâm của hồn Trương Ba đến cùng, để từ đó những tư tưởng nhân nghĩa, những triết lý nhân sinh được thể hiện một cách sâu sắc, thấm thía.

Trước cuộc đối thoại giữa hồn và xác, nhà viết kịch đã để hồn Trương Ba “ngồi gục đầu hồi lâu rồi chợt đứng dậy” với lời độc thoại bức xúc: Không! Không phải! Tỏi không muốn sống thế này mãi đâu! Tôi mệt mỏi với nơi không phải của tôi! Thân hình cồng kềnh, thô lỗ này, tôi bắt đầu sợ bạn. Anh chỉ muốn rời xa em ngay lập tức! Nếu linh hồn của tôi có hình hài của riêng nó, hãy để nó tách khỏi cơ thể này, dù chỉ trong chốc lát.”

Rõ ràng hồn Trương Ba đang có tâm trạng vô cùng uất ức, đau khổ. Những câu cảm thán ngắn gọn, dồn dập cùng với khát khao không ngừng nghỉ của tâm hồn đã nói lên điều đó. Linh hồn thất vọng vì nó không thể thoát ra khỏi cơ thể mà linh hồn ghê tởm. Tâm hồn đau khổ vì tôi không còn là chính mình. Trương Ba không còn là người làm vườn chăm chỉ, hết lòng yêu thương vợ con, quan tâm hàng xóm láng giềng như trước. Ông Trương Ba đáng kính đã chết rồi. Trương Ba bây giờ vụng về. thô lỗ, rất thô lỗ. Người đọc. Người xem càng thấy rõ điều đó qua những lời đối thoại và hồn Trương Ba cũng rơi vào trạng thái đau khổ, tuyệt vọng.

Trong cuộc đối thoại với xác anh hàng thịt, hồn Trương Ba ở thế yếu, vì xác đã nói những điều mà hồn dù muốn hay không cũng phải thừa nhận. Đó là cái đêm anh đứng cạnh vợ hàng thịt mà “tay chân run”, “hơi nóng”, “nghẹn họng” và “suýt nữa…”. Đó là cảm giác “rung rinh” trước món ăn mà trước đó linh hồn cho là “quen thuộc. Đó là lần ông tát con trai “ứa máu mồm”,… tất cả đều là sự thật. Người bán thịt nhớ lại tất cả những điều này sự thật, khiến tâm hồn càng thêm hổ thẹn, cảm thấy thấp kém. Lão đồ tể còn bật cười trước lý lẽ mà lão đưa ra cho kẻ ngụy biện: “Ta vẫn còn một mạng sống. riêng tư: nguyên vẹn, trong sạch, ngay thẳng”. Trong cuộc đối thoại này, cái xác chiếm ưu thế nên ông hăng hái tuôn ra những câu dài với giọng có lúc cười mỉa mai, có lúc răn dạy thiên hạ, chỉ có linh hồn mới buông những dòng ngắn ngủi với vẻ rụt rè. giọng nói kèm theo những tiếng rên rỉ, kêu khóc. Không chỉ đau khổ, linh hồn còn xấu hổ trước những lời công khai của thể xác mà linh hồn đã cảm nhận trước đó. Không muốn nói ra, không muốn thừa nhận.

Nỗi đau khổ, tuyệt vọng của hồn Trương Ba càng được đẩy lên khi đối thoại với những người thân yêu.

Người vợ anh hết mực yêu thương giờ buồn bã và đòi ra đi. Đối với cô ấy, “bất cứ nơi nào bạn đi … đều tốt hơn thế này”. Cô đã nói một điều mà anh cũng cảm nhận được: “anh không còn là anh, anh không còn là Trương Ba người làm vườn ngày xưa”.

Cô gái, cháu trai của bạn bây giờ không cần phải giữ tâm trí của mình. Nó nhấn mạnh vào tình cảm của ông: Tôi không phải là cháu của ông.. Ông tôi đã chết. Cô gái yêu anh bao nhiêu thì giờ đây không thể chấp nhận được người đàn ông “tay giết lợn”, chân “to như cái xẻng” đã “bẻ nụ”, “dẫm lên”. cây nhân sâm quý mới” trong vườn ông nội. Nó hận ông vì đã làm gãy diều cho ông Tí, làm cho cu Tí trong cơn sốt phát khóc, hối hận và bắt đền. Nó với nó “ông nội gì mà vậy lỗ mãng, độc ác quá”. Cơn tức giận của cô gái biến thành sự đày đọa quyết liệt: “Mày thật xấu xa, thật ác độc! Đi chỗ khác! Lão đồ tể, cút đi!”.

Chị dâu là người sâu sắc, chín chắn, hiểu chuyện hơn người thật. Cô thấy thương bố chồng trong hoàn cảnh trớ trêu. Tôi biết anh ấy đã phải chịu đựng rất nhiều, tồi tệ hơn nhiều so với trước đây.” Nhưng nỗi xót xa trước hoàn cảnh gia đình “như sắp đổ” khiến cô không nén được bụng mà đau đớn thốt lên nỗi đau ấy: “Thầy bảo: Bề ngoài chẳng đáng kể gì, chỉ có bề trong thôi, mà thầy, Anh rất sợ, vì anh cảm thấy, đau lòng khi thấy… em từng ngày thay đổi, dần mất đi, mọi thứ dường như đang lệch đi, nhạt nhòa đi, đến nỗi có lúc anh không còn nhận ra em nữa… “.

Tất cả những người thân yêu của hồn Trương Ba đều nhận ra nghịch cảnh trớ trêu. Họ nói trắng ra vì với họ ngày chôn xác Trương Ba xuống đất họ khổ thì khổ chứ “không khổ như bây giờ”.

Sau tất cả những cuộc đối thoại đó, mỗi nhân vật bằng chính tiếng nói của mình đã khiến hồn Trương Ba không khỏi day dứt. Nỗi cay đắng với chính mình cứ lớn dần… lớn dần, muốn vỡ òa, muốn trào dâng. Nhất là sau hàng loạt câu hỏi có vẻ tuyệt vọng của cô con dâu: “Thầy ơi, làm sao con giữ được thầy ở đây. Hiền lành, vui vẻ và tử tế như thầy của chúng con ngày xưa? Thế nào thầy?” Tất nhiên, linh hồn không thể chịu đựng lâu hơn nữa.

Nhà viết kịch đã để hồn Trương Ba trơ trọi với đỉnh điểm của đau khổ và tuyệt vọng, một mình với những đoạn độc thoại cay đắng nhưng quyết liệt: “Mày đã thắng rồi, thân không phải của tao. ?”Không còn cách nào khác”! Anh nói thế à? Nhưng có thực sự không có cách nào Có thực sự không còn cách nào khác? Không cần mạng sống mà anh mang theo! Không cần!”. Đây là lời độc thoại dứt khoát dẫn đến hành động thắp hương gọi Đế Thích một cách dứt khoát.

Cuộc đối thoại giữa hồn Trương Ba và Đế Thích trở thành nơi tác giả gửi gắm những quan niệm về hạnh phúc, về lẽ sống và cái chết. Hai dòng hồn trong cảnh này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng:

Không thể ở trong cái này, ở ngoài cái khác. Tôi muốn là chính tôi…

Sống nhờ đồ đạc của người khác là chuyện không cần bàn cãi, dù sao thì ngay cả thân xác của tôi cũng phải sống nhờ vào đồ tể. Anh ta đơn giản chỉ nghĩ để tôi sống, nhưng anh ta không cần biết sống như thế nào!

Người đọc và người xem có thể nhận ra ý nghĩa triết học sâu sắc và thấm thía của hai dòng này. Thứ nhất, con người là một thể thống nhất, hồn và xác phải hòa hợp với nhau. Không thể có một tâm hồn cao thượng trong một thân xác phàm trần, tội lỗi. Khi con người bị những nhu cầu bản năng của thể xác chi phối thì đừng chỉ đổ lỗi cho thể xác, không thể an ủi, vỗ về mình bằng vẻ đẹp siêu hình của tâm hồn. Thứ hai, sống một cuộc sống thực sự của con người không phải là dễ dàng hay đơn giản. Khi sống nhờ, sống nhờ, sống chắp vá, khi không được là chính mình thì cuộc sống đó thật vô nghĩa. Những dòng tâm sự của Hồn Trương Ba với Đế Thích chứng tỏ nhân vật ý thức rõ hoàn cảnh trớ trêu, éo le của mình, đồng cảm sâu sắc với nỗi đau trước sự chênh lệch ngày càng lớn giữa hồn và xác. Nó cũng chứng tỏ quyết tâm giải thoát của nhân vật trước khi Đế Thích xuất hiện.

Quyết định dứt khoát xin Đế Thích bất tử cho cu Tí được sống lại, cho mình chết hẳn và không nhập vào hồn nhân vật của Hồn Trương Ba nữa là kết quả của một quá trình hợp lý. Hơn nữa, quyết định này cần phải được đưa ra đúng lúc vì cu Tí vừa mới mất. Hồn Trương Ba cố tưởng tượng hồn mình nhập lại xác Tí để sống và thấy rõ “bao nhiêu rắc rối” vô lý tiếp tục xảy ra. Nhận thức tỉnh táo ấy và tình thương mẹ con Tí đã khiến hồn Trương Ba đi đến quyết định dứt khoát. Qua quyết định này, ta càng thấy Trương Ba là người nhân hậu, khôn ngoan và đầy tự trọng. Đặc biệt, đó là con người ý thức được ý nghĩa của cuộc sống.

Cái chết của Cu Tí nhằm đẩy nhanh diễn biến kịch tính đến mức “mở nút”. Miêu tả quá trình đi đến quyết định dứt khoát của nhân vật Trương Ba, Lưu Quang Vũ đã đảm bảo tính tự nhiên, hợp lý cho tác phẩm.

Không chỉ có ý nghĩa triết lý về lẽ sống, về hạnh phúc con người, với tinh thần đấu tranh thẳng thắn của một nghệ sĩ tích cực tham gia vào công cuộc cải tạo xã hội, trong vở kịch này nói chung và ở phần cuối có nói: Lưu Quang Vũ nói riêng muốn nhằm góp phần phê phán một số biểu hiện tiêu cực trong lối sống lúc bấy giờ. Thứ nhất, con người có nguy cơ chạy theo những ham muốn vật chất tầm thường, chỉ biết hưởng thụ đến mức tầm thường, thô thiển. Nói như Chế Lan Viên trong một bài thơ đã từng cảnh báo “muốn ăn cái xác phải ăn cái hồn”. Thứ hai, lấy cớ tâm hồn là quý, đời sống tinh thần là đáng trân trọng mà không quan tâm đúng mức đến sinh hoạt vật chất, không phấn đấu đạt được hạnh phúc trọn vẹn. Thực chất đây là biểu hiện của chủ nghĩa duy tâm chủ quan, của sự lười biếng, của sự không tưởng. Cả hai quan niệm và cách sống này đều cực đoan và đáng bị phê phán. Ngoài ra, vở kịch còn đề cập đến một vấn đề bức xúc không kém, đó là tình trạng con người phải sống giả tạo, không dám và không được sống là chính mình. Đó là nguy cơ đẩy con người đến chỗ bị danh lợi làm cho tha hóa.

Xem thêm các bài văn mẫu lớp 12 luyện thi THPT Quốc gia:

hon-truong-ba-da-hang-thit.jsp

Các bộ đề lớp 12 khác

Bạn thấy bài viết Top 3 bài Phân tích tác phẩm Hồn Trương Ba, da hàng thịt hay nhất có khắc phục đươc vấn đề bạn tìm hiểu ko?, nếu ko hãy comment góp ý thêm về Top 3 bài Phân tích tác phẩm Hồn Trương Ba, da hàng thịt hay nhất bên dưới để pgddttramtau.edu.vn có thể thay đổi & cải thiện nội dung tốt hơn cho các bạn nhé! Cám ơn bạn đã ghé thăm Website: pgddttramtau.edu.vn của PHÒNG GIÁO DỤC ĐÀO TẠO HUYỆN TRẠM TẤU

Nhớ để nguồn bài viết này: Top 3 bài Phân tích tác phẩm Hồn Trương Ba, da hàng thịt hay nhất của website pgddttramtau.edu.vn

Chuyên mục: Văn học

Xem thêm bài viết hay:  Sơ đồ tư duy Những đứa trẻ dễ nhớ, ngắn gọn

Viết một bình luận