Phân tích Tiếng cười qua những bài ca dao hài hước hay nhất – Ngữ văn lớp 10

Bạn đang xem: Phân tích Tiếng cười qua những bài ca dao hài hước hay nhất – Ngữ văn lớp 10 tại pgddttramtau.edu.vn

Đề bài: Phân tích tiếng cười trong ca dao hài hước.

Bài giảng: Ca dao vui nhộn – Cô Trương Khánh Linh (giáo viên )

Bên cạnh khúc trữ tình, ca dao hài hước còn phản ánh một khía cạnh khác trong tâm hồn của người bình dân xưa, chứa đựng tinh thần lạc quan, sức sống mãnh liệt và sự phản kháng của nhân dân. Không chỉ vậy, tiếng cười trong ca dao còn là những lời trách móc, bất bình, thái độ, sự điều chỉnh hành vi, hướng tới cuộc sống tốt đẹp, công bằng hơn.

Ca dao hài hước chứa đựng quan điểm, thái độ, tình cảm của người bình dân trước những hiện tượng của cuộc sống và quan hệ tình cảm giữa người với người. Không chỉ vậy, tiếng cười còn là vũ khí tinh thần giúp họ vượt qua muôn vàn khó khăn của cuộc sống. Tiếng cười trong ca dao phong phú nhiều cung bậc, có khi là tiếng cười châm biếm hóm hỉnh, có khi là tiếng cười cay đắng trước sự thật nhàm chán, có khi là tiếng cười phản kháng trước thực trạng xã hội. nhiều điều bất công.

Từ thực tế còn nhiều gian khổ, những con người bình dị xích lại gần nhau trong tiếng cười, mượn tiếng cười để bày tỏ tình cảm một cách ý nghĩa:

“Cưới nàng, chàng định dẫn voi,

Nó sợ quốc cấm nên voi không nói”.

Anh chàng cởi mở với cô gái một cách hào hoa để thể hiện ngay rằng anh ta đang nói đùa. Nhưng nó có hoàn toàn là một không? câu nói đùa? Có thể hình dung ra hoàn cảnh của đôi trai gái yêu nhau qua câu ca dao: họ sống trong cảnh nghèo khó nhưng vô cùng lạc quan. Câu trả lời có chút nghịch ngợm nhưng cũng có chút ngậm ngùi cho phận nghèo. Ngôn ngữ cường điệu che lấp một sự thật mà người ta quen gọi là “khoe khoang” thực chất lại mang đến vị chua cay cho việc phá vỡ những hủ tục ngăn cách con người với nhau. Chàng trai có sính lễ rất xa xỉ: voi dắt, trâu dắt, bò dắt… nhưng cuối cùng lại là một chú chuột béo ấn tượng. Lời giải thích hợp tình, hợp lý: con voi khổng lồ là hàng cấm – luật nước không cho phép, dắt trâu dắt bò, chăm sóc họ hàng nhà gái, máu mủ gân cốt – chứng tỏ chàng trai là một người “cẩn thận”. thật tuyệt” với các cô gái! Sợ hãi cho nhà gái là lời nói mỉa mai, mỉa mai dành cho những ai đã nghĩ ra trò thách cưới độc ác khiến đôi trai gái dở khóc, dở cười. Con chuột béo là thái độ đáp trả bằng sự chế giễu cay đắng. Nhưng câu trả lời của cô gái tuy đùa cợt nhưng chứa đựng tấm lòng đáng quý:

“Anh ấy dẫn tôi đi nên tôi coi đó là điều xa xỉ,

Điều gì sẽ xảy ra nếu ern đột phá như…

Người ta thách lợn thách gà,

Nhà tôi dám cưới một nhà khoai lang…”

Ngụ ý trong câu trả lời là lời động viên chàng trai vững tin đi đến hạnh phúc, đó vẫn là thách cưới nhưng chàng trai hoàn toàn có thể đáp ứng được bằng chính sức lao động của mình. Sự tế nhị trong lời nói của cô gái vừa là sự đáp lại lời thách cưới quậy phá, vừa là mong muốn chàng trai trở thành người siêng năng, cần cù xứng đáng với tình yêu của cô. Không chỉ vậy, cô còn mang đến thông điệp về sự tiết kiệm: củ lớn mời làng, củ nhỏ mời họ và không bỏ sót mẻ củ, củ, củ, cây bạc hà nào. Câu trả lời thông minh đó mang lại niềm hy vọng và sự lạc quan về hạnh phúc.

Ca dao hài hước còn mang những suy tư về hiện thực xã hội phong kiến, trọng nam khinh nữ, vẫn là mô típ về đạo làm người, nhưng không phải là sự ngợi ca khả năng “vá trời”. đổ đầy bình” mà chỉ:

“Làm đàn ông cho xứng đáng đàn ông,

Quỳ gối gánh hai hạt vừng.”

Từ bản tính yêu lao động, người bình dân chỉ trích, chế giễu những kẻ lười biếng, khoe khoang. Ý nghĩa hài hước xuất phát từ hình ảnh đối lập: vai rộng, lưng còng để đỡ hai hạt vừng. Động thái kia chẳng khác nào bắt chước hình ảnh của những vị chức sắc chỉ giỏi khom lưng, khuỵu gối để vượt lên trước. Người đời chế giễu những kẻ vô tích sự, mang tiếng là gánh núi, nhưng thực ra chẳng khác gì những kẻ ăn bám, sống nhờ của người khác. Thật bất hạnh cho những ai phải chịu cảnh chồng như vậy! Ca dao còn có những lời than thở của người phụ nữ:

“Chồng đi đi lại lại,

Chồng tôi đang ở trong bếp sờ đuôi con mèo.”

Trong quan hệ gia đình, có lẽ khi gặp phải tình huống bất đắc dĩ, người vợ có thể so sánh chồng mình với chồng người khác. Hình ảnh người chồng thảm hại trong mối quan hệ qua lại với việc sờ đuôi mèo. Bất kỳ người phụ nữ nào cũng muốn chồng mình giỏi giang, đảm đang quốc sự hay chí ít cũng là trụ cột của gia đình. Còn người chồng trong bài ca dao này cứ quanh quẩn nơi xó bếp, yếu đuối và hèn nhát. Nhưng lời than thở giận dữ đó không thay đổi được số phận. Chỉ biết than thở rằng, dù thế nào thì vẫn là chồng, vẫn là nghĩa tình và nợ với nhau. Đằng sau lời ca ấy là một nỗi lòng nặng trĩu, thể hiện một ước mong chồng được như bạn, để người vợ được mở rộng tầm mắt, mở rộng khuôn mặt.

Trong ca dao không chỉ có tiếng cười giễu nhại mà còn có rất nhiều nụ cười ấm áp yêu thương, gắn bó. Người bình thường biết cười đời và cũng biết cường điệu những tật xấu của mình để tự cười mình. Không phải tiếng cười thiên về đàn ông, mà đối với phụ nữ cũng có nhiều chuyện để cười. Điểm đặc biệt là tất cả những lệch lạc ấy đều trở nên đáng yêu trong một gia đình hạnh phúc:

“Lỗ mũi của bạn là mười tám sợi tóc,

Chồng thương chồng bảo chồng cho râu rồng.

Tôi ngáy vào ban đêm khi tôi nằm xuống…

Chồng yêu chồng bảo ngay ngáy là cho vui cửa vui nhà.

Đi chợ thì hay ăn quà.

Chồng thương chồng bảo cô về nhà phụ giúp.

Trên đầu rác và rơm,

Ông xã nói hoa thơm rắc lên đầu!”

Chắc hẳn không một người phụ nữ nào có thể kể hết ra đầy đủ những “tật xấu” của mình bằng một lối nói cường điệu hoàn toàn trái ngược với chuẩn mực “Công – Dung – Ngôn – Hạnh” thời phong kiến. Không gò ép mình vào lối sống gò bó, giả tạo, mong ước chung của mọi người là có một gia đình hạnh phúc, sự sẻ chia thấu hiểu trong đời sống vợ chồng. Điệp khúc chồng yêu chồng nói… không giấu giếm niềm tự hào khi có được người chồng tuyệt vời. Có lẽ những triết lý của các học giả đáng kính cũng rút ra từ hiện thực cuộc sống phong phú đáng yêu này: “vẻ đẹp không nằm ở đôi má hồng của người thiếu nữ mà nằm ở đôi mắt của người tình” (Kant). Một người chồng yêu vợ như thế quả là hiếm có trong một xã hội vốn khắt khe với những chuẩn mực nặng nề, những quy tắc cứng nhắc. Không chỉ vậy, đó là sự điều chỉnh hành vi của những người bình thường bởi không người phụ nữ nào muốn giữ những nét xấu trong mắt chồng mình. Cười là thế, nhưng cũng có lời cảnh báo nhẹ nhàng cho việc giữ gìn hạnh phúc. Vì chồng yêu thì hạnh phúc, còn chồng ghét thì tai họa, tan vỡ.

Tiếng cười dân gian trong ca dao quả thực hàm chứa nghệ thuật sống của người bình dân xưa. Tiếng cười ấy thể hiện tinh thần của người lao động luôn biết vượt qua hoàn cảnh, bất công, khó khăn để lạc quan, yêu đời. Tiếng cười ấy là sức sống tâm hồn lành mạnh của con người luôn ý thức được giá trị của bản thân, luôn mong ước cuộc sống công bằng, tốt đẹp.

Xem thêm các bài văn mẫu phân tích và lập dàn ý tác phẩm lớp 10:

Các bài giải bài tập lớp 10 sách mới:

ka-dao-hai-huoc.jsp

Giải bài tập lớp 10 theo sách mới môn học

Bạn thấy bài viết Phân tích Tiếng cười qua những bài ca dao hài hước hay nhất – Ngữ văn lớp 10 có khắc phục đươc vấn đề bạn tìm hiểu ko?, nếu ko hãy comment góp ý thêm về Phân tích Tiếng cười qua những bài ca dao hài hước hay nhất – Ngữ văn lớp 10 bên dưới để pgddttramtau.edu.vn có thể thay đổi & cải thiện nội dung tốt hơn cho các bạn nhé! Cám ơn bạn đã ghé thăm Website: pgddttramtau.edu.vn của PHÒNG GIÁO DỤC ĐÀO TẠO HUYỆN TRẠM TẤU

Nhớ để nguồn bài viết này: Phân tích Tiếng cười qua những bài ca dao hài hước hay nhất – Ngữ văn lớp 10 của website pgddttramtau.edu.vn

Chuyên mục: Văn học

Xem thêm bài viết hay:  50+ mẫu Phân tích hồi 4 vở kịch Bắc Sơn của Nguyễn Huy Tưởng | Văn mẫu lớp 9

Viết một bình luận