Bình giảng bài thơ Thu vịnh của Nguyễn Khuyến

Bạn đang xem: Bình giảng bài thơ Thu vịnh của Nguyễn Khuyến tại pgddttramtau.edu.vn

Đề bài: Bình giảng bài thơ “Thu vịnh” của Nguyễn Khuyến.

Nguyễn Khuyến có nhiều thơ chữ Hán và chữ Nôm. “Thu vịnh” là một trong ba bài thơ Nôm nổi tiếng: “Thu cô”, “Thúy” và “Thu vịnh”. Tập thơ này đã đưa Nguyễn Khuyến lên hàng đầu trong những nhà thơ viết về mùa thu quê hương và phong cảnh Việt Nam.

Điều đáng chú ý là những chi tiết trong bài thơ này được rút ra từ khung cảnh quen thuộc ở quê hương của tác giả. Ruộng trũng một năm chỉ làm được một vụ, ngập úng hết. Trong làng có nhiều ao với bờ tre uốn lượn che những mái tranh nghèo. Mở đầu là khung trời bao la:

“Trời thu cao xanh quá

Cây tre cần được đung đưa trước gió.”

Nền trời mùa thu trong xanh nhưng có chiều sâu. Cao bao la cao lắm, tưởng tượng mà thấy nhiều lớp, nhiều tầng nối tiếp nhau. Bầu trời mùa thu không một gợn mây, xanh thẳm và rộng vô tận. Trên cái nền ấy nổi bật lên hình ảnh thanh tre (cây tre non có hình cong như cần câu) thanh mảnh, sinh động đung đưa nhẹ nhàng trong gió thu. Làn gió nhẹ thoảng qua và dường như ẩn chứa điều gì đó bên trong. Tất cả dường như có một sự đồng cảm thầm lặng, sâu lắng, rất êm, rất nhẹ, tinh tế và khó nắm bắt… Động tác “mộc tre” càng làm tăng thêm sự tĩnh lặng, thăm thẳm của màu trời. . Sắc trời như dồn hết vào sâu bên trong “que tre”, để nó vừa đung đưa, vừa đủ để đứng yên. Đó là sự động và tĩnh trong nhau của mùa thu.

Hai câu kết ngắt hai cảnh mùa thu giản dị, thanh tao nhưng nhịp nhàng với lòng tác giả. Trong đó, từng chi tiết, màu sắc, đường nét, chuyển động đều hài hòa và ăn ý với nhau. Mới nhắc đến trời thu mà đã chứa đựng cả cái hồn của mùa thu trong đó.

“Nước trong xanh tựa khói phủ

Nhưng xin hãy để mặt trăng chiếu sáng.”

“Nước trong xanh” là màu đặc trưng của mùa thu. Tiết trời mùa thu se lạnh. Vào sáng sớm hay lúc hoàng hôn, mặt nước trong ao thường phủ một lớp sương mỏng trông như làn khói. Ở đây, cảnh mặt nước sương khói qua tâm hồn Nguyễn Khuyến đã trở thành một dạng mùa thu ngâm vịnh. “Smoke cover” không giống như “smoke cover”. Làn khói trở nên dày đặc hơn, nhiều lớp hơn, có chiều cao, có chiều sâu, như được chứa, bịt, bịt, bịt vào trong. “Nước biếc” với “khói bao phủ” nghĩa là nước không còn trong xanh, lẫn với làn khói lam trở nên mơ hồ, huyền ảo. Đó là hình thức mùa thu trên mặt đất, sau hình thức mùa thu trên bầu trời.

“song thưa” gợi sự nhẹ nhàng, thanh thoát, rộng mở. “Bóng trăng” đi vào qua “khúc hát đơn” còn bỏ ngỏ, “bóng trăng” trở nên rộng rãi thoải mái hơn. Nhưng tất cả đều im lặng và bên trong sự im lặng đó là một điều gì đó đang chờ đợi, sắp xảy ra. Nếu ở câu trên là trạng thái có độ cao, độ sâu, bao trùm, bao trùm thành một khối, thể tích nào đó thì ở câu này là trạng thái mở ra, tràn ra, lộ ra một bề. rộng, một mặt. Khía cạnh ấy tuy có vẻ bị hạn chế bởi ô cửa sổ “thưa thớt” nhưng bên trong vẫn bao la về tinh thần và giọng điệu… Nhưng dù là dung lượng hay diện mạo vẫn là những khoảng lặng, đầy suy tư. riêng.

Cảnh vật trong bốn câu thơ đầu dường như không cùng một lúc. Thấy trời xanh, “cột tre lờ đờ” là vào buổi trưa. “Nước trong xanh” sương mù bao phủ là lúc hoàng hôn và trăng soi qua khe cửa khi trời về đêm… Cảnh được vẽ liên tục nhưng không cùng một lúc, trong một không gian. Tuy nhiên, sợi dây kết nối tất cả lại là tâm trạng thống nhất của tác giả.

Ngòi bút theo ý nhà thơ mà chọn những cảnh ấy. Tuy khác nhau nhưng dường như chúng lại thống nhất với nhau để gợi lên trạng thái tĩnh lặng, thương cảm hơn và ẩn chứa bên trong. Đó chính là tâm tư, tâm hồn của mùa thu của tác giả.

Tâm trạng ấy chi phối cách nhìn, cách nghĩ của Nguyễn Khuyến:

“Vài chùm trước giậu, hoa năm ngoái

Một giờ trong không khí, những con ngỗng nước?

Sau khi nhìn làn nước mờ sương, nhìn ánh trăng qua cửa sổ, nhà thơ nhìn ra hàng giậu ngoài sân. Ở đó, rải rác những cụm hoa. Và nhà thơ chợt thấy… đó là “hoa năm ngoái”.

Trên đó, cảnh vật mới qua con mắt, miễn là khách quan, ở đây trái tim cảm xúc đã giao thoa với cảnh vật và cảnh vật đã tô thêm màu sắc chủ quan của tác giả. Hoa trước mắt, năm nay chắc chắn giống… “hoa năm ngoái”. Điều gì đã xảy ra trong trái tim của mọi người? Con người đang ở hiện tại nhưng lại thích quay về quá khứ hay quá khứ hiện về trong thực tại?

Nhạc điệu câu thơ theo nhịp 4/1/2: ​​Từ “Chùm cây trước giậu” đến “hoa năm ngoái” trong lòng nhà thơ có một sự suy tư, một sự suy tư, rồi bất chợt một nỗi niềm”. hoa năm ngoái” hơn là hoa năm nay. Cảm giác ấy khiến nhà thơ nghe tiếng ngỗng trời mà thắc mắc “Con ngỗng nước nào?” Dẫu rằng tiếng ngỗng ấy đã trở nên quen thuộc mỗi độ thu sang.

Nếu ở bốn câu thơ trên, cảnh vật hài hòa, đồng cảm với nhau trong nỗi sầu thì ở đây, con người cũng hòa hợp, đồng cảm với cảnh vật. Cảnh thể hiện suy nghĩ của con người và con người bày tỏ lòng mình trong cảnh. Như vậy, cảnh không chỉ hiện ra trong mắt mà còn trong trái tim xao xuyến của nhà thơ. Nhìn mùa thu, nhìn những bông hoa trong sân, nghe tiếng chim hót từ trên cao, khơi dậy một cảm giác buồn man mác, lặng lẽ mà như xé lòng, đau lòng. Chiều sâu tâm hồn con người lắng đọng vào chiều sâu của câu thơ là thế.

Trước cảnh sắc mùa thu, tâm hồn của mùa thu, cảm hứng thơ đã nảy sinh khiến nhà thơ “gác bút”, nhưng nghĩ đi nghĩ lại lại thấy “ngại với ông Đào” nên đành phải đưa lên.

“Tôi cũng vừa định cất bút đi,

Nghĩ lại mà thấy xấu hổ cho anh Đào”,

Nhà thơ “ngại ngùng” về điều gì? “Thẹn thùng” vì tài thơ kém Đào Tiên hay tại mình không có tính cách cứng cỏi như chàng?

Lôgic của bài thơ là từ cảnh đến tình, từ tình đến người. Đoạn thơ kết có gì đó lơ lửng mà kín đáo. Câu thơ vì thế làm tăng thêm chất suy tưởng và nhịp điệu của cả bài thơ.

Tác giả miêu tả cảnh mùa thu trên quê hương mình, từ màu trời, ngọn tre, mặt nước, ánh trăng đến khóm hoa trước giậu, tiếng ngỗng trời… để đến với những cảm xúc phản tư chứa đựng trong cảnh vật. Thông qua đó, nhà thơ gửi gắm niềm xót xa trước cảnh đất nước đã rơi vào tay giặc, quá khứ tốt đẹp không còn nữa mà lòng xót xa, bơ vơ.

“Thu vịnh” là một bài thơ hay. Nó góp phần làm nên tình yêu quê hương trong thơ Nguyễn Khuyến, cụ thể là tình yêu thiên nhiên thôn quê chan chứa tình nghĩa. Trình độ nghệ thuật của bài thơ đã đạt đến trình độ cầu kỳ, cổ điển mà không phải bài thơ nào cũng dễ sánh kịp.

Các bộ đề lớp 12 khác

Bạn thấy bài viết Bình giảng bài thơ Thu vịnh của Nguyễn Khuyến có khắc phục đươc vấn đề bạn tìm hiểu ko?, nếu ko hãy comment góp ý thêm về Bình giảng bài thơ Thu vịnh của Nguyễn Khuyến bên dưới để pgddttramtau.edu.vn có thể thay đổi & cải thiện nội dung tốt hơn cho các bạn nhé! Cám ơn bạn đã ghé thăm Website: pgddttramtau.edu.vn của PHÒNG GIÁO DỤC ĐÀO TẠO HUYỆN TRẠM TẤU

Nhớ để nguồn bài viết này: Bình giảng bài thơ Thu vịnh của Nguyễn Khuyến của website pgddttramtau.edu.vn

Chuyên mục: Văn học

Xem thêm bài viết hay:  Top 4 bài văn Phân tích truyện An Dương Vương và Mị Châu - Trọng Thủy hay nhất - Ngữ văn lớp 10

Viết một bình luận