Bài văn mẫu Phân tích tác phẩm Hạnh phúc của một tang gia hay nhất

Bạn đang xem: Bài văn mẫu Phân tích tác phẩm Hạnh phúc của một tang gia hay nhất tại pgddttramtau.edu.vn

Đề bài: Có ý kiến ​​cho rằng “Số đỏ” của Vũ Trọng Phụng giống như một “trò chơi tấn đời” của xã hội Việt Nam thời thực dân nửa phong kiến ​​thối nát. Anh (chị) hãy phân tích chương XV “Niềm hạnh phúc của một tang gia” (Số đỏ) để làm sáng tỏ nhận định trên.

Đất nước hôm nay tươi đẹp, sự phát triển đổi thay từng giờ, nhưng chúng ta vẫn không thể quên một thời kỳ đen tối nhất trong lịch sử nước nhà. Trong thời kỳ đất nước ta còn chìm trong bóng tối của chế độ thực dân nửa phong kiến, vô số người khoác lên mình những “bộ áo” giả dối, lố bịch và thối nát để cùng nhau tạo nên bức tranh khảm của một xã hội thối nát. Bằng ngòi bút trào phúng bậc thầy, Vũ Trọng Phụng đã đả kích sâu sắc cái xã hội tư sản thành thị chạy theo lối sống trác táng, trác táng đương thời qua “Số đỏ”. Có ý kiến ​​cho rằng “Số đỏ” của Vũ Trọng Phụng là một “trò đời tấn” của xã hội Việt Nam thời thuộc địa nửa phong kiến. Quả thực, xã hội được phản ánh và quy mô, thi pháp trong “Số đỏ” không ngang tầm với “Tấn trò đời” (Balzac), nhưng mức độ phản ánh hiện thực và tầm ảnh hưởng sâu rộng của tác phẩm đối với cộng đồng. đồng không thua kém.

Honoré de Balzac – được ca ngợi là “bậc thầy của chủ nghĩa hiện thực” (Engles) đã để lại một tác phẩm đồ sộ: bộ “Tấn đời” gồm 97 tiểu thuyết được viết từ năm 1829 đến năm 1850. Dù dang dở, Tấn đời vẫn là một tác phẩm lớn. bức tranh chân thực, khắc họa rõ nét những mâu thuẫn trong xã hội tư sản Pháp nửa đầu thế kỷ XIX. Balzac gọi tiểu thuyết của mình là tiểu thuyết của mình. “bi kịch”. Và đây cũng chính là điểm chung khiến ta liên tưởng “Số đỏ” của văn xuôi Việt Nam với “Tấn đời” của văn học cổ điển Pháp.

“Số đỏ” (1936) là tác phẩm tiêu biểu nhất của Vũ Trọng Phụng và là một trong những tác phẩm hay nhất của văn xuôi Việt Nam hiện đại. Sử dụng tiếng cười làm vũ khí, “Số đỏ” đã vạch trần bản chất thối nát của phong trào “Âu hóa” và “thể thao” được giới cầm quyền khuyến khích và nở rộ vào cuối những năm 1930. Bằng hàng loạt bức chân dung giàu chất biếm họa, “Số đỏ” giúp ta hình dung ra xã hội thành thị ngày xưa sa đọa, đồi trụy. “Hạnh phúc của một tang gia” – một chương tiêu biểu trong “Số đỏ” qua cái chết và đám tang của cụ cố, tác giả đã dựng lên một màn hài kịch, làm nổi bật nhiều mâu thuẫn hài hước đủ mọi cung bậc. bước chân. Xuyên suốt chương là phong cách trào phúng độc đáo trong việc thể hiện niềm vui mừng, hả hê của các thành viên trong gia đình cụ cố Hồng trước cái chết của cụ cố và những người đưa tiễn đông như trẩy hội.

Trong “Lão Hạc”, Nam Cao đã viết: “Đối với những người xung quanh ta, nếu ta không cố gắng tìm hiểu họ, ta sẽ chỉ thấy họ là những con người điên rồ, đần độn, đê tiện, xấu xa, ghê tởm… . xin lỗi vì tôi độc ác, tôi chưa bao giờ thấy họ là những người đáng thương.” Nếu như Nam Cao đến với số phận con người bằng tấm lòng nhân đạo, đùm bọc con người, khiến người đọc không khỏi ngậm ngùi qua từng trang viết thì Vũ Trọng Phụng lại lột trần cái “hạnh phúc” đáng khinh bỉ, con cháu. Bất hiếu, lố bịch đã làm khô héo cả những tình cảm máu thịt thiêng liêng nhất.

“Hạnh phúc của một tang gia”, tiêu đề này thật mới lạ và giật gân, khiến độc giả phải chú ý. Tuy nhiên, đây không phải là sự giật gân dễ dãi, vô lý mà phản ánh một sự thật trớ trêu: con cháu của đại gia đình này thực sự hạnh phúc, thậm chí là “sung sướng” khi một ngày nào đó ông cố của họ qua đời. cái chết được chờ đợi từ lâu. Những cảm xúc, những hứng thú muôn màu, muôn vẻ. Tôi không khỏi cười thầm “cái chết ấy đã làm cho nhiều người sung sướng lắm…”, nhưng phải chăng đó là niềm vui thầm kín, “tưng bừng, hớn hở đưa cáo phó, kèn gọi, xe đưa tang…” . Đó chỉ là niềm vui chung. Vũ Trọng Phụng đã cố gắng tìm hiểu đại gia đình này qua từng con người. Tôi ngậm ngùi cho tấm lòng hiếu thảo, yêu được cụ cố Hồng “mộng cho đến lúc cụ mặc áo gai, khập khiễng chống gậy…”, ngậm ngùi cho một “giấc mơ” nhỏ nhoi đó là cụ đã quay lưng. tự mình vào rạp xiếc để “người ta chỉ trỏ khen ngợi…” Rồi anh bảo anh ong bắp cày mừng vì được thêm ít tiền, anh Văn Minh “hú hồn vì ý chí đó sẽ được thực hành trong thời gian tới”, anh Minh nói. .Tử Tấn “sung sướng phát điên vì có cơ hội thử tài chụp ảnh”. Vũ Trọng Phụng đã xây dựng một màn kịch từ những “giấc mơ” thầm kín đến niềm vui tràn trề, toàn cảnh “gia đình tang tóc” tuyệt nhiên không một chút đau buồn. Gay gắt hơn “con cháu chỉ nôn nóng muốn nhanh chóng chôn cất xác cụ tổ, ông Văn Minh thì “thầm biết ơn Xuân Tóc Đỏ đã vô tình gây ra cái chết của cụ”.

Balzac từng miêu tả cái chết của lão Gorio trong cảnh nghèo đói cả về vật chất lẫn tinh thần. Tuy nhiên, dù sao đi nữa, “những nghĩa vụ cuối cùng đó đã được hai thanh niên xa lạ thực hiện một cách tận tụy. Có thể nói, bóng ma ông cố trong “Số đỏ” hoàn toàn tương phản với màu sắc u buồn trong truyện “Nghĩa vụ cuối cùng”. ” (Già Gorio) Nghệ thuật trào phúng sắc sảo, Vũ Trọng Phụng đã sử dụng những chi tiết chọn lọc để khắc họa sắc nét cảnh đám tang bộc lộ rõ ​​nét “văn minh giả tạo” “Không biết đây là đám tang hay đám rước vì lẫn lộn -ghép “ta, Tàu, Tây…”, “lợn quay”, “vòng hoa”, “câu đối”. Tôi không còn từ nào để diễn tả, Tuyết “mặc… Ngây thơ… hở nách, nửa ngực…” với khuôn mặt mang “một nét buồn lãng mạn rất thời thượng”. hào hứng “ra lệnh chụp ảnh… như đi hội chợ” cái gọi là hoành tráng, trang trọng, vinh dự của đám ma đó chỉ là sự phô trương giả tạo, lố bịch khoa học, là biểu hiện tâm lý. ngông lạ lùng qua những hình thức tang lễ ngộ nghĩnh, tác giả đã buông một câu hết sức mỉa mai “thật là xấu hổ” Chà, một đám tang có thể khiến người chết trong quan tài mỉm cười hạnh phúc nếu anh ta không gật đầu.

Không chỉ sử dụng những yếu tố mâu thuẫn đời thường, thậm chí tầm thường để trào phúng: Vũ Trọng Phụng còn xây dựng vô số nhân vật phụ làm nền cho bức tranh biếm họa ít nhiều bắt nguồn từ nhân vật chính. hiện thực, những nguyên mẫu trong xã hội dâm ô, dối trá đương thời. Từ bạn thân của cụ cố Hồng… huân chương đầy mình… đến “giai nhân” đất Hà Thành đang Âu hóa “chim nhau, cười nhau, chê nhau, gièm pha nhau”. nhau, ghen ghét nhau…” đã thể hiện mọi góc độ của sự vô văn hóa, vô đạo đức của những kẻ lưu manh đội lốt lừa đảo. Hành động của cụ Phan đối với Xuân Đỗ Đỏ ở cuối đoạn trích là chi tiết châm biếm đặc sắc cay đắng góp phần quan trọng làm nổi bật sự phi lý, vô đạo đức của xã hội thượng lưu lúc bấy giờ. “Ông Phan cứ đi, khóc không dứt” nhưng vẫn không quên bí mật “dúi tờ giấy bạc gấp tư vào tay Xuân”. Những trí thức chân chính của Việt Nam, nhiều người từng du học ở Pháp, nhưng họ đau đáu nỗi đau thân phận nô lệ, họ đau đáu niềm tự hào dân tộc dưới gót giày xâm lược của quân viễn chinh. Bọn Pháp và chúng từ bỏ mọi tiện nghi, quyền lợi cá nhân để vào chiến khu “đi theo Bác Hồ”. Hãy cùng nghe một đoạn nhật ký của GS Hồ Đắc Di (thầy của danh sĩ – Tôn Thất Tùng) “Ai đã từng sống khổ cực trong đêm trường nô lệ; hoặc ít nhất đã trải qua gian khổ, dằn vặt về lương tâm và nhân phẩm, thì sẽ noi theo cơn lốc cách mạng, một khi ánh sáng của nó soi sáng tâm hồn”. Những người trí thức và nhân dân lao động chân chính Việt Nam đã làm nên cuộc Cách mạng Tháng Tám, lật tẩy những thủ đoạn, lừa bịp của nền văn minh giả dối, bịp bợm và thực trạng số đỏ của xã hội Việt Nam. đứng trong “cơn lốc cách mạng”.

Từ cách đặt tên chương, đặt tên nhân vật, đối tượng, so sánh, sử dụng hình ảnh, đặt câu, tạo giọng điệu đều thể hiện tính châm biếm, trào phúng mạnh mẽ và mang tính hài hước. hiệu quả nghệ thuật rõ rệt. Sau cái hài vui nhộn ấy là một bi kịch “buồn”, đó là bi kịch của cả xã hội khi đạo đức con người xuống cấp, nhân cách bị tha hóa: sau tiếng cười, ta thấy tội nghiệp cho xã hội. Việt Nam lúc bấy giờ. “Số đỏ” thật xứng đáng là một “Tấn trò đời” của xã hội Việt Nam thời thực dân nửa phong kiến ​​thối nát. Đọc Số đỏ nói chung, và chỉ một chương XV “Hạnh phúc của một nhà tang chế”, tôi đã cười rồi lại khóc một cách chua xót bởi những giá trị truyền thống cao đẹp nhất của dân tộc ta đã bị chà đạp xuống đất. tan nát cõi lòng Việt Nam. Vũ Trọng Phụng đã đưa chúng ta chứng kiến ​​một thế giới “phi nhân bản” mà thế lực đồng tiền và thực dân đưa ra bằng khẩu hiệu ngụy trang “văn minh-văn minh”.

Cách đây không lâu, Trần Tế Xương cũng từng dở khóc dở cười cho xã hội cổ truyền Việt Nam điên đảo qua bài thơ “Mùng hai Tết thăm cô Kí”. Để rồi, Vũ Trọng Phụng ghi lại như một trang phóng sự, chính xác và sống động đến lạ lùng bằng ngòi bút rỉ máu từ trái tim chan chứa tình yêu Tổ quốc. Thông điệp từ trang “Số đỏ” năm xưa nhắc nhở mỗi chúng ta hôm nay ý thức trách nhiệm đối với đất nước. Để thân phận “số đỏ” mãi mãi chỉ là “một phút hụt cung” trong toàn bộ lịch sử hào hùng của một dân tộc tự chủ, tự tôn.

Xem thêm các bài văn mẫu về phân tích và lập dàn ý tác phẩm lớp 11:

niềm hạnh phúc

Các bộ đề lớp 11 khác

Bạn thấy bài viết Bài văn mẫu Phân tích tác phẩm Hạnh phúc của một tang gia hay nhất có khắc phục đươc vấn đề bạn tìm hiểu ko?, nếu ko hãy comment góp ý thêm về Bài văn mẫu Phân tích tác phẩm Hạnh phúc của một tang gia hay nhất bên dưới để pgddttramtau.edu.vn có thể thay đổi & cải thiện nội dung tốt hơn cho các bạn nhé! Cám ơn bạn đã ghé thăm Website: pgddttramtau.edu.vn của PHÒNG GIÁO DỤC ĐÀO TẠO HUYỆN TRẠM TẤU

Nhớ để nguồn bài viết này: Bài văn mẫu Phân tích tác phẩm Hạnh phúc của một tang gia hay nhất của website pgddttramtau.edu.vn

Chuyên mục: Văn học

Xem thêm bài viết hay:  2 bài văn mẫu Phân tích hình tượng người nông dân nghĩa sĩ trong Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc hay nhất - Ngữ văn lớp 11

Viết một bình luận