50+ mẫu Cảm nhận Bài thơ tiểu đội xe không kính | Văn mẫu lớp 9

Bạn đang xem: 50+ mẫu Cảm nhận Bài thơ tiểu đội xe không kính | Văn mẫu lớp 9 tại pgddttramtau.edu.vn

Tổng hợp 50+ mẫu Cảm nhận Bài thơ tiểu đội xe không kính hay, chọn lọc từ những bài văn hay của học sinh lớp 9
trên cả nước giúp học sinh lớp 9 có thêm tài liệu tham khảo từ đó biết cách viết Nêu cảm nhận của em về bài thơ Tiểu đội xe không kính của tác giả Phạm Tiến Duật dễ dàng hơn.

Cảm nhận của em về bài thơ Tiểu đội xe không kính (mẫu 1)

Văn học kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ phát triển đến đỉnh cao với nhiều tác phẩm nổi bật. Chúng ta ấn tượng với vẻ đẹp nơi núi rừng “Việt Bắc” cùng Tố Hữu, mê say trước tình đồng chí đồng bào vô cùng lãng mạn tại “Đồng chí” của Chính Hữu. Đến với “Bài thơ về tiểu đội xe không kính”, Phạm Tiến Duật – gương mặt thơ trẻ trong thời kỳ chống Mỹ cứu nước – lại khắc họa một hình tượng thơ hoàn toàn mới mẻ: những chiếc xe không kính. Đồng thời, bằng giọng thơ rất sôi nổi của tuổi trẻ vừa có cả sự ngang tàn tinh nghịch nhưng lại vô cùng sâu sắc ông đã tái hiện được tinh thần chiến đấu mạnh mẽ, bản lĩnh, vừa tếu táo vừa can trường.

Phạm Tiến Duật từng tốt nghiệp khoa Ngữ văn, trường Đại học Sư phạm Hà Nội. Năm 1964, ông gia nhập quân đội, hoạt động trên tuyến đường Trường Sơn. Từ đó, ông vừa tham gia chiến đấu vừa sáng tác thơ văn với nhiều tác phẩm nổi tiếng. Trong đó, “Bài thơ về tiểu đội xe không kính” được sáng tác năm 1969 thuộc chùm thơ được tặng giải Nhất cuộc thi thơ báo Văn nghệ năm 1969 được, in trong tập thơ “Vầng trăng quầng lửa” là bài thơ tiêu biểu nhất của ông.

Nhà thơ tái hiện hình ảnh những “chiếc xe không kính” một cách trần trụi, chân thực:

“Xe không kính không phải vì xe không có kínhBom giật bom rung, kính vỡ đi rồi”

Đây là những chiếc xe vận chuyển lương thực, đạn dược vào chiến trường miền Nam, đang chạy dọc theo tuyến đường Trường Sơn lịch sử. Nguyên nhân của việc chúng “không có kính” là bởi hiện thực khốc liệt của chiến tranh, mưa bom bão đạn. Động từ mạnh “giật”, “rung” cùng từ “bom” được nhắc lại hai lần như càng nhấn mạnh sự tàn khốc trên chiến trường.

Bên cạnh hình tượng những chiếc xe không kính vô cùng độc đáo đó chính là vẻ đẹp của người lính cụ Hồ. Dẫu có bom đạn dội ngày dội đêm, biến những chiếc xe thành không kính, người lính lái xe vẫn ung dung, hiên ngang, tự tại vô cùng:

“Ung dung buồng lái ta ngồi,Nhìn đất, nhìn trời, nhìn thẳng”

Không sợ hãi trước cái chết, không nao núng trước khó khăn mà chiến tranh mang lại, người chiến sỹ vẫn “ung dung” tiến về phía trước. Từ ung dung đặt đầu câu như càng khẳng định tư thế ngoan cường, làm chủ những chiếc xe, coi thường mọi khó khăn trước mắt đó. Một ánh nhìn đầy quyết tâm “nhìn thẳng” thể hiện một ánh nhìn chính trực, nhưng cũng đầy quyết tâm, vượt qua mọi vất vả, thiếu thốn về vật chất.

Không chỉ can trường, không sợ chết, khi đứng trước muôn vàn điều hiểm nguy với chiếc xe không kính, điều kiện thực tế khó khăn, người lính vẫn kiên cường, lạc quan:

“Nhìn thấy gió vào xoa mắt đắngNhìn thấy con đường chạy thẳng vào timThấy sao trời và đột ngột cánh chimNhư sa, như ùa vào buồng lái”

Đang ngồi trong xe mà tựa hồ như ở ngoài trời, mắt cay đắng vì những luồng gió trực tiếp lùa vào, bốn bề đều rộng lớn, thấy cả sao trời, cả cánh chim đang bay cũng sà vào buồng lái. Hiện thực khốc liệt và nhiều hiểm nguy như thế nhưng người lính đã quá quen thuộc rồi, chẳng bận tâm đến nữa. Giờ đây không gì có thể khiến họ nao núng, dù chỉ là cái chết ngay trước mắt, bởi con đường giải phóng miền Nam thống nhất đất nước đang ở ngay phía trước, trở thành cầu nối với con tim, như tăng thêm quyết tâm.

Không chỉ không bận tâm đến những khó khăn, các anh lính lái xe còn tự mình tập làm quen với điều kiện thực tế nhiều thiếu thốn. Tinh thần luôn lạc quan, yêu đời, coi nhẹ vấn đề thì tâm hồn cũng thư thái, vui vẻ hơn:

“Không có kính, ừ thì có bụiBụi phun tóc trắng như người giàChưa cần rửa phì phèo châm điếu thuốcNhìn nhau mặt lấm cười ha ha

Không có kính ừ thì ướt áoMưa tuôn mưa xối như ngoài trờiChưa cần thay lái trăm cây số nữaMưa ngừng gió lùa khô mau thôi.”

Muôn vàn gian khổ đang chào đón họ trên mỗi tuyến đường, là “bụi phun tóc trắng”, “mưa tuôn mưa xối như ngoài trời” làm “ướt hết cả áo”. Dù như thế, người lính can trường luôn tự giữ tinh thần dí dỏm, lạc quan, vui vẻ, đặc biệt không bận tâm gì mấy đến những điều đó. Giọng nói ngang tàng, mạnh mẽ như thách thức cả hiện thực còn nhiều thiếu thốn về vật chất “ừ thì có bụi”, “ừ thì ướt áo”.

Nhưng họ rất “ngông”, đúng cái chất của người lính lái xe, kệ mặc cho ướt áo, bụi mù vẫn kiên cường “chưa cần thay”, “chưa cần rửa”. Bởi họ đã làm quen với những điều này rồi. Kệ cho lấm lem mặt mũi, tư thế vụng về, đáng yêu, châm một điếu thuốc phì phèo rồi cười ha ha vô cùng hào sảng, áo ướt thì cứ mặc kệ, tiến lên phía trước vài trăm cây số là khô lại ngay. Như vậy, thiên nhiên khắc nghiệt, chiến tranh tàn khốc cũng không thể làm nhụt chí chiến đấu của người lính, ngược lại khiến họ thêm phần bản lĩnh, rắn rỏi hơn bao giờ hết.

Cũng nhờ những chiếc xe không kính đặc biệt, tình đồng chí đồng đội được tăng thêm mấy phần:

Những chiếc xe từ trong bom rơiĐã về đây họp thành tiểu độiGặp bạn bè suốt dọc đường đi tớiBắt tay qua cửa kính vỡ rồi

Từ mưa bom, bão đạn, khắp trên mọi ngả đường, những chiếc xe không kính đã về nơi hội tụ, họp thành một tiểu đội, kể nhau nghe những câu chuyện mà mình đã trải qua. Dù ở bất cứ đâu, ai cũng là bạn bè, đồng chí với nhau. Hình ảnh “bắt tay nhau qua cửa kính vỡ rồi” cho thấy tinh thần đoàn kết, gắn bó với nhau của những người lính. Đồng thời thể hiện được tinh thần đoàn kết, cùng nhau vượt qua những ngày lầm lũi của chiến tranh, kiên cường, giúp đỡ nhau tiến về phía ánh sáng của toàn dân ta.

Cùng tham gia chiến trận, cùng mục tiêu, ý chí như nhau, họ không chỉ là đồng đội đơn thuần mà đã là gia đình của nhau, tựa như máu mủ, ruột thịt. Hình ảnh chiếc bếp Hoàng Cầm, nấu không khói nhằm tránh kẻ địch phát giác, càng giúp cho độc giả tái hiện chân thực hơn cuộc sống của người lính cụ Hồ thời bấy giờ.

Khổ thơ cuối thể hiện ý chí chiến đấu mạnh mẽ, quyết tâm tiến về miền Nam, thống nhất đất nước. Nhờ có những tình cảm đơn thuần, chân thành đó với nhau, sự tàn khốc của chiến tranh đã không còn rõ nét nữa:

Không có kính rồi xe không có đènKhông có mui xe thùng xe có xướcXe vẫn chạy vì miền Nam phía trướcChỉ cần trong xe có một trái tim.

Bom vẫn rơi, đạn vẫn nổ, đoàn xe thì vẫn đi. Điệp từ “lại đi”, ngắt nhịp 2/2/4 như hừng hực lời hô hào quyết tâm của họ. Dẫu rằng mỗi chiếc xe sẽ ngày càng nhiều mất mát không kính, không đen, không mui, thùng xe bị trước. Từ “không” được nhắc lại ba lần như muốn nhắc nhở về sự khốc liệt của chiến trận, tuy nhiên sự khốc liệt giờ đây đã hóa chất thơ hơn. Bởi lẽ, không gì có thể ngăn cản tiếng gọi tha thiết của đồng bào, của quê hương, đất nước, tiếng gọi của trái tim. Tình yêu nước đã trở thành sợi dây thôi thúc người lính can trường, bản lĩnh trên mỗi chuyến xe. Họ tin về một tương lai tương đẹp của đất nước, vì trời chắc chắn sẽ “xanh thêm”.

Bằng chất liệu thơ hiện thực sinh động, ngôn ngữ và giọng điệu giàu tính khẩu ngữ, tự nhiên, khỏe khoắn, biện pháp tu từ “điệp từ” nhấn mạnh ý chí chiến đấu và nhịp thơ linh hoạt, mạnh mẽ, Phạm Tiến Duật đã thành công trong ghi nhận lại những cảm thức khách quan về trận chiến đấu vô cùng tàn khốc, cùng hình tượng người lính lái xe tuyệt đẹp. Bài thơ đã dần trở thành câu hát chung cho những người lính, cổ vũ họ về mặt tinh thần, chỉ cần Tổ quốc gọi tên, muôn vàn khó khăn đều không thể sánh bằng độc lập, tự do được.

Kết bài mẫu cảm nhận bài thơ về Tiểu đội xe không kính

“Yêu biết mấy những con người đi tớiHai cánh tay như hai cánh bay lênNgực dám đón những phong ba dữ dộiChân đạp bùn không sợ các loại sên!”

Chiến tranh đem lại cho chúng ta nhiều bi thương, khổ cực và ở đó có những con người dũng cảm, kiên cường. Khó khăn, bất hạnh cũng không làm người ta nhụt chí. Bài thơ “Tiểu đội xe không kính” của Phạm Tiến Luật nói riêng và thơ kháng chiến chống Mỹ nói chung không chỉ là nguồn cổ vũ tinh thần cho đồng bào, đồng đội mà còn là lời nhắc nhở cho đoàn viên, thanh niên Việt Nam phải biết trân trọng những thành quả mà ông cha ta hy sinh bảo vệ. Bên cạnh đó phải luôn giữ tinh thần lạc quan, yêu đời để vượt qua mọi khó khăn, gian khổ.

Cảm nhận về Bài thơ về tiểu đội xe không kính tựa như đang cảm nhận không khí hào hùng một thời, “quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”. Đồng thời, các bạn cũng nên nhìn nhận về trách nhiệm, và lý tưởng sống của mình, dù gian nan, vất vả đến đâu cũng vui vẻ, lạc quan, tiến lên phía trước.

Cảm nhận của em về bài thơ Tiểu đội xe không kính (mẫu 2)

50+ mẫu Cảm nhận Bài thơ tiểu đội xe không kính | Văn mẫu lớp 9

“Xe ta quý ta yêuÔi chiếc xe đồng chíCùng ta lăn sớm chiềuCùng ta đi đánh Mĩ.”

(Bài ca lái xe đêm – Tố Hữu)

Trong cuộc trường chinh chống Mĩ, để giải phóng quê hương, để giành lấy độc lập, để dành lại tự do cho dân tộc, người chiến sĩ giải phóng quân đã trở thành nhân vật tiêu biểu, hội tụ những gì cao đẹp nhất. Những chàng trai đó đã được nhân dân và thế giới khâm phục, ngưỡng mộ. Hình ảnh anh chiến sĩ hào hùng, sôi nổi, trẻ trung đã trở thành nguồn cảm hứng dạt dào, là đề tài bất tận, bất tận cho các nhà thơ, nhà văn sáng tác. Là một nhà thơ phục vụ trong quân đội, phục vụ trong binh đoàn lái xe vận tải, trên con đường máu lửa Trường Sơn, Phạm Tiến Duật đã cảm nhận sâu sắc cuộc sống người chiến sĩ lái xe trên con đường lịch sử này. Ông đã sáng tác một bài thơ hay, một bài thơ độc đáo. Đó là “Bài thơ về tiểu đội xe không kính”. Phân tích bài thơ, ta mới cảm nhận, hiểu biết đầy đủ hơn về người lính, đồng thời đó ta cũng sẽ thấy được nét đặc sắc về ngôn ngữ và giọng điệu bài thơ.

Trên con đường rừng Trường Sơn huyết mạch và nổi tiếng với tên gọi “đường mòn Hồ Chí Minh”, những chiếc xe thuộc đơn vị vận tải vẫn lao nhanh ra chiến trường tiếp viện. Những chiếc xe và chiến sĩ lái xe trở thành quen thuộc, đáng yêu. Nhà thơ viết về họ với phong cách tự nhiên thật độc đáo.

Nguồn cảm hứng của nhà thơ bắt nguồn từ hiện thực” chiếc xe không có kính” và càng bất ngờ hơn, gây ấn tượng mạnh mẽ hơn là là không chỉ có một chiếc xe thôi đâu mà là cả một “ tiểu đội xe không kính”. Hình ảnh những chiếc xe đó được nhấn mạnh trong câu thơ đầu tiên, một lời giới thiệu khá độc đáo, thân thương:

“Không có kính không phải vì xe không có kính”.

Câu thơ thoạt nghe như lời kể lể, giải bày. Với ngôn ngữ giản dị, mộc mạc, giống như lời nói của người chiến sĩ giới thiệu chiếc xe yêu quý mà mình đang sử dụng. Xe vốn thường có kính và chiếc xe có kính là điều bình thường, không có gì đáng nói. Chi tiết tả thực không có kính mới gây sự chú ý, bất ngờ và là một thực tế có sức khơi gợi mạch thơ, có sức khơi gợi lòng người. Nếu vế đầu của câu thơ đó có tính chất phủ định thì ở vế sau của câu thơ lại nhằm khẳng định, nhấn mạnh ”không phải vì xe không có kính”. À! Thì ra trước kia vẫn nguyên vẹn, lành lặn với các bộ phận đó chứ đâu phải xe mới ra đời là đã không có kính. Vậy tại sao lại có sự không bình thường ấy chứ? Vì sao cả một ”tiểu đội xe không kính”? Nhà thơ bước vào tư thế, vị trí kiên cường của người chiến sĩ lái xe để trả lời:

“Bom giật bom rung kính vỡ đi rồi”.

Thì ra cái lí do, cái nguyên nhân là vì chiến tranh mà ra cả. Chiến tranh phá hoại chiếc xe, làm cho chiếc xe tàn tạ, trở thành chiếc xe không mui, không đèn, không thể không xước đi, yếu dần. Điệp từ “bom” kết hợp với các động từ”giật”, ”rung” đã tái hiện lại không khí, tính chất khốc liệt, gay go của cuộc chiến đấu giữa ta và giặc, phơi bày và tố cáo bản chất hung bạo, ngông cuồng của quân giặc. ”Mưa bom bão đạn” của chúng dội xuống Trường Sơn thật là dữ dội, ác liệt. Bọn chúng định dùng sức mạnh với các vũ khí hiện đại để chặn đường tiếp tế, tiến công của ta, làm lung lay ý chí, tinh thần chiến đấu của người chiến sĩ. Sức ép của bom đạn khi nổ, những mảnh bom trúng vào chiến sĩ, trúng vào chiếc xe khiến cho chiếc xe bị trầy, khiến cho chiếc xe ”kính vỡ đi rồi”. Lời thơ vẫn nhẹ nhàng thể hiện sự bình thản của người cầm lái. Đối lập với thực tế khó khăn, khắc nghiệt về điều kiện bởi những chiếc xe bị hư hại là thái độ của người chiến sĩ lái xe: ”Ung dung buồng lái ta ngồi”

Từ “ung dung” đặt trong phép đảo ngữ như đang diễn tả thái độ tự tin, bình tĩnh, không một chút nao núng, run sợ của người chiến sĩ. Bất chấp mọi trở ngại, gian khổ, mặc kệ những hiểm nguy, người lính vẫn vững vàng ngồi vào buồng lái để làm nhiệm vụ. Thái độ ấy xuất phát từ phẩm chất gan dạ, anh hùng và từ chiếc xe không kính, người chiến sĩ đã quan sát cảnh vật bên ngoài ”Nhìn đất, nhìn trời, nhìn thẳng.”

Câu thơ viết theo nhịp hai-hai-hai thật cân đối. Nó thể hiện sự nhịp nhàng, thăng bằng của chiếc xe đang lăn bánh và nhất là thái độ tự tin, bình tĩnh của người cầm lái. Điệp ngữ “nhìn” đã nhấn mạnh, khắc sâu vẻ đẹp từ cách quan sát của người chiến sĩ. Một vẻ đẹp xuất phát từ tâm hồn, tấm lòng của anh. Cách nhìn chăm chú đó biểu lộ niềm yêu thương của anh với thiên nhiên và cuộc sống, sự quyết tâm vững vàng trong nhiệm vụ. Anh “nhìn đất ”để thêm gắn bó, yêu thương con đường Trường Sơn hào hùng, thân thuộc để dẫn đưa chiếc xe đến chỗ, nơi an toàn, mau mau đến đích. Anh ”nhìn trời” để tâm hồn thêm lạc quan, bay bỗng, thêm tin tưởng vào tương lai. Anh ”nhìn thẳng” là nhìn về phía trước, nhìn vào con đường trước mặt cần vượt qua, nhìn vào nhiệm vụ đầy gian khổ, khó khăn thử thách của mình để thêm cương quyết, tích cực mà sẵn sàng đối phó, đương đầu với bao hiểm nguy, gian khổ, khó khăn. Bởi thế, mặc cho bom đạn gào thét, anh vẫn cứ tiến lên. Anh chiến sĩ lái xe thật dũng cảm, hào hùng biết bao.

Chiếc xe của anh không còn bộ phận nào để che chắn nên giờ này người chiến sĩ đã tiếp xúc trực tiếp với thế giới bên ngoài khi chiếc xe lao đi, lao đi mà không ngoảnh lại:

“Nhìn thấy gió vào xoa mắt đắngNhìn thấy con đường chạy thẳng vào tim”

Cảm giác của người chiến sĩ về cơn gió là cảm giác trực diện. Anh không chỉ cảm thấy cơn gió vào “xoa mắt đắng” mà đã nhìn thấy cơn gió vô hình. Để làm giảm bớt vị đắng, sự khó chịu nơi con mắt bởi những ngày đêm thức trắng để lái xe không nghỉ ngơi, anh đã cho chị gió xoa mắt đắng, xoa nó đi để rồi ngày mai anh đi tiếp, đi tiếp về tương lai. Cảm giác ấy càng phát triển mạnh mẽ khi anh “nhìn thấy con đường chạy thẳng vào tim. Sự liên tưởng ấy thật đẹp và thật độc đáo khi chiếc xe lao tới, con đường lúc ấy như chạy ngược về phía trước. Sự tin tưởng phù hợp với tấm lòng của người lái, đó là tấm lòng nhiệt tình, hăng say trong nhiệm vụ. Trái tim người chiến sĩ luôn luôn dạt dào tình yêu Tổ Quốc, quê hương mà đặc biệt là con đường thân thuộc, gần gũi, con đường hứng chịu bao bom đạn máu lửa. Chiếc xe vẫn cứ lao nhanh, lao xa đi mãi, tiến lên phía trước vì người lính biết rõ mục đích, lí tưởng công việc cao cả của mình là cống hiến, hoạt độn vì ai, để làm gì?

“Thấy sao trời và đột ngột cánh chimNhư sa như ùa vào buồng lái”

Cuộc chiến ấy thật hiểm nguy, thử thách nhưng tâm hồn người chiến sĩ luôn lãng mạn, bay bỗng khi anh quan st từ chiếc xe không kính để thấy ”sao trời, cánh chim”. Có lẽ, tâm hồn anh phải hân hoan, phơi phới yêu đời nên mới có được cảm nhận”…như sa, như ùa vào buồng lái.”. Nếu điệp ngữ ”nhìn thấy” diễn tả thi độ quan sát chủ động của người chiến sĩ đối với cảnh vật thì động từ “thấy” lại nhấn mạnh đến sự xuất hiện bất ngờ, mau lẹ, “đột ngột” của cánh chim đêm. Cách nhìn ấy thật l tinh tế! Một như sao, một cánh chim lạc đàn cũng làm anh chú ý, quan tâm xao xuyến. Nhịp thơ trở nên nhanh gấp, sôi nổi thể hiện tâm hồn yêu đời, yêu thiên nhiên, sự lạc quan của người chiến sĩ giải phóng quân thời chống Mĩ. Như một bài ca đ từng được viết: “Cuộc đời vẫn đẹp sao, tình yêu vẫn đẹp sao, dù đạn bom man rợ thét gào

“Cuộc đời vẫn đẹp saoTình yêu vẫn đẹp saoDù đạn bom man rợ thét gàoDù thân thể thiên nhiên mang đầy thương tích.”

Đối với người chiến sĩ lái xe, chiếc xe “không kính” đem lại những cảm giác khi lao đi trên đời vắng. Nhưng đó cũng là nguyên nhân gây ra hậu quả:

“Không có kính, ừ thì có bụiBụi phun tóc trắng như người già.”

Khổ thơ bắt đầu bằng cấu trúc lặp lại “không có kính” như muốn nhấn mạnh phác họa vẻ lạ, độc đáo của chiếc xe và là lí do khiến xe “có bụi”.

Mất đi bộ phận chắn che, người lái và chiếc xe như đi giữa bụi đất. Điệp từ “bụi” và động từ “phun” diễn tả, nhấn mạnh mức độ ghê gớm đến đáng sợ của bụi: bụi bay, bụi cuốn mù mịt cả không gian, cả đất trời trong mỗi lần xe chạy và kéo dài suốt cả chặng đường dài. Trong bài thơ Lá Đỏ, nhà thơ Nguyễn Đình Thi cũng đ cảm nhận về cơn bụi nơi đây, nó vội v như người lính, người chiến binh hào hùng:

“Đội quân vẫn đi vộiBụi Trường Sơn như trong trời lửa.”

Những cơn bụi đó qua khung kính vỡ đ a vo buồng li, phủ đầy tóc tai, đầy khuôn người lính biến thành hình tượng ngộ nghĩnh, đáng yêu qua cách so sánh của nhà thơ “tóc trắng như người già”. Phải chăng đây chính là “những con quỷ mắt đen” như Lê Minh Khuê diễn tả về cô thanh niên xung phong trên cao điểm Trường Sơn? Anh chiến sĩ đôi mươi kia, trẻ trung, sôi động giờ đây đ được “hóa trang” thành một con người khác, già đi gấp bội bởi lớp bụi dày bám lên tóc. Cái gian khổ của anh chiến sĩ lái xe được diễn tả lại sao mà nhẹ nhàng đến thế. Họ không kêu ca, than vãn mà lại lấy chính gian khổ của mình để tự động viên mình bằng cách khơi nữa ấy chứ.

“Chưa cần rửa phì phèo châm điếu thuốcNhìn nhau mặt lấm cười ha ha.”

Nếu từ ngữ “ừ thì” thể hiện sự chấp nhận, chịu đựng những cơn “mưa bụi nhiệm màu” thì thi độ “chưa cần rửa” lại là sự thách thức, bất chấp, xem thường mọi gian khổ. Gian khổ này dường như không tác động đến ý chí, quyết tam của anh. Người chiến sĩ xem đó là dịp để rèn luyện ý chí, sức mạnh của mình.

Và thêm một chặng đường là thêm hàng triệu khó khăn chồng chất. Chiếc xe phải gặp những trận mưa rừng, gặp gió bụi Trường Sơn. Thật là khủng khiếp bởi lẽ:

“Trường Sơn đông nắng tây mưaAi chưa đến đó như mình.”

Khi xe không có mui xe che chắn thì thực tế sẽ ra sao? Những hạt mưa rừng như những nhát chổi quất vào mặt người lính, khó khăn biết bao cho cuộc lái xe! Thế là người lính nếm đủ mùi gian khổ mà thái độ thì vẫn ngang tàn, phơi phới, lạc quan:

“Không có kính, ừ thì ướt áoMưa tuôn mưa xối như ngoài trờiChưa cần thay, lái trăm cây số nữaMưa ngừng, gió lùa khô mau thôi”

Với cấu trúc được lặp lại “không có kính” ,”ừ thì” với ngôn ngữ bình dị, giọng điệu ngang tàng lại một lần nữa thể hiện thái độ bất chấp của người lính. Chiếc xe không kính ấy đi vào mùa nào, thời tiết nào cũng đều gian khổ cả. Điệp ngữ “mưa” kết hợp với những từ gợi tả thật đẹp “tuôn, xối” gợi lên những cơn mưa thật dữ dội, khiến người lính lái xe bị “ướt áo”. Thái độ của người lính của người lính được thể hiện dứt khoát “chưa cần thay “. Họ mặc kệ cái ướt át, lạnh giá để tiếp tục nhiệm vụ “lái trăm cây số nữa” .Lời nói thật giản dị, đơn sơ nhưng thể hiện quyết tâm lớn của người chiến sĩ: xe phải đến tới đích , ý thức trách nhiệm, đóng góp cho cuộc chiến của họ thật đẹp, thật đáng quý biết bao! Họ lái xe cho đến khi “mưa ngừng” và trong suy nghĩ của họ cũng thật, bình dị:

“Mưa ngừng, gió lùa khô mau thôi.”

Biết rằng người lính quân đội vì nhiệm vụ với ý thức tự nguyện đây. Tâm hồn của người chiến sĩ sôi nổi, yêu đời da diết.

Bản chất của người lính lái xe là đi, nhưng phải có lúc họ phải dừng lại trú quân:

“Những chiếc xe từ trong bom rơiĐã về đây họp thành tiểu đội.”

Câu thơ miêu tả cuộc gặp gỡ vui vầy trong không khí đoàn kết, gắn bó, chia sẻ ngọt bùi sau những trận chiến ác liệt, căng thẳng:

“Gặp bè bạn suốt dọc đường đi tớiBắt tay qua cửa kính vỡ rồi.”

Chiếc xe không kính kia phải có lúc ngừng chạy. Đó là khi chúng hoàn thành xong nhiệm vụ. Ta bắt gặp được một nét đẹp khác nơi họ. Đó chính là tình đồng đội, đồng chí của những anh lính lái xe. Khác khăn so với hình ảnh của những anh vệ quốc quân với một nụ cười “buốt gi”, không biết bao giờ mình mới trở lại được quê hương. Các anh giải phóng quân giữa chiến trường ác liệt, họ cũng không cảm thấy buồn chán, vì quanh họ có biết bao đồng đội gần gũi, yêu thương. Trong cuộc hành trình vất vả đó họ đã “gặp bạn suốt dọc đường đi tới”, đem đến cho họ sự vui tươi, thân ái. Từ “họp, gặp” diễn tả những cuộc hội ngộ của những người lính trẻ trung, cùng chí hướng thì hình ảnh “bắt tay nhau” thật đẹp đẽ, biểu hiện sự đồng cảm, thân ái, yêu thương của những người chiến sĩ.

Tình đồng chí, đồng đội của anh lính lái xe trên tuyến đường Trường Sơn càng thắm thiết, cảm động hơn khi họ cùng chia sẻ với nhau một bữa cơm chiến:

“Bếp Hoàng Cầm ta dựng giữa trờiChung bát đũa nghĩa là gia đình đấyVõng mắc chông chênh đường xe chạyLại đi, lại đi trời xanh thêm.”

Họ đã chiến đấu, công tác trên con đường Trường Sơn khi cần nghỉ ngơi họ lại lấy con đường thân yêu ấy làm nhà. Họ trị chuyện, cười đùa với nhau thật thoải mái, thân mật. Họ dựng bếp Hoàng Cầm giữa trời, “võng mắc chông chênh” sau những giờ phút căng thẳng giữa chiến trường. Hai hình ảnh “Bếp Hoàng Cầm” “võng mắc chông chênh” là hai bức vẽ hiện thực làm sống lại hiện thực chiến trường. Các anh vừa nấu cơm vừa chợp mắt trên cái “võng mắc chông chênh”. Bữa cơm chiến trường đơn sơ, giản dị thế mà vẫn rộn lên niềm vui tình đồng đội:

“Thương nhau chia củ sắn lùiBát cơm xẻ nửa, chăn sui đắp cùng”

(Tố Hữu)

Để rồi từ đây, cái định nghĩa về gia đình của các anh chiến sĩ mới ngộ nghĩnh làm sao!

“Chung bát đũa nghĩa là gia đình đấy”

Một gia đình vui tươi, trẻ trung gồm những người lính trẻ được hình thành khi “chung bát đũa”. Nhưng chỉ trong một thoáng chốc để rồi sau đó người chiến sĩ lại tiếp tục hành quân:

“Lại đi, lại đi trời xanh thêm.”

Điệp ngữ “lại đi” được diễn tả một công việc quen thuộc của người lính nhưng đồng thời cũng biểu lộ nhiệt tình, khí thế khẩn trương sôi nổi của họ. Trước mắt họ, “trời xanh thêm” như báo hiệu một ngày công tác, chiến đấu, nhưng lại phù hợp với tâm hồn trẻ trung, yêu đời của người lính cũng như niềm lạc quan, tin tưởng của họ vào tương lai, vào cuộc sống.

Vẫn một giọng thơ mộc mạc, gần với lời nói thường ngày như văn xuôi, nhưng nhạc điệu, hình ảnh trong khổ thơ cuối rất đẹp, rất thơ góp phần hoàn thiện bức chân dung tuyệt vời của người lính lái xe quân sự trên tuyến đường Trường Sơn trong những năm đánh Mĩ. Bốn dòng thơ dựng lại hai hình ảnh rất thú vị, bất ngờ:

“Không có kính, rồi xe không có đènKhông có mui xe, thùng xe có xướcXe vẫn chạy vì miền Nam phía trước:Chỉ cần trong xe có một trái tim.”

Khổ thơ cuối vốn là ngôn ngữ giản dị, đơn sơ. Điệp ngữ “không có” như nhấn mạnh, làm những khó khăn, trở ngại dồn dập, liên tiếp. Khi những bộ phận cần thiết của của chiếc xe đ bị bom đạn làm hư hại. Cài “không có” là kính, la đèn, là mui xe, “thùng xe cũ xước”. Thế mà người chiến sĩ vẫn tiếp tục điều khiển cho xe chạy. “Xe vẫn chạy” chứ không chịu ngừng nghỉ, nằm yên. Điều gì người chiến sĩ tận tụy, quân mình nhiệm vụ, coi thường những gian khổ, khó khăn? Tất cả là bởi một mục đích, một lí tưởng cao cả “vì miền Nam phía trước”. Lòng yêu nước nồng nàn, ý thức căm thù giặc cao độ đã giúp cho người chiến sĩ sẵn sàng quân mình vì nhiệm vụ. Ước mong cao đẹp nhất là mong muốn giành được độc lập, tự do cho “Tổ Quốc”, mang lại hòa bình độc lập cho quê hương. Cội nguồn sức mạnh của người chiến sĩ lái xe, sự dũng cảm kiên cường của người chiến sĩ được diễn tả thật bất ngờ, sâu sắc:

“Chỉ cần trong xe có một trái tim.”

Thì ra “trái tim” cháy bỏng tình yêu thương Tổ Quốc đồng bào miền Nam ruột thịt được khích lệ, động viên người chiến sĩ vượt qua bao gian khó, luôn bình tĩnh, tự tin để cầm chắc tay lái đưa xe đi tới đích. Hình ảnh bất ngờ ở cu cuối đ lí giải được tất cả mọi vấn đề. Câu thơ bình dị như lời nói hằng ngày nhưng lại ẩn chứa một ý tưởng sâu sắc về một chân lí thời đại. Sức mạnh để chiến thắng không phải vũ khí hiện đại, phương tiện tối tân, đầy đủ tiện nghi mà chính là con người với trái tim nồng nàn yêu thương đất nước nhân dân, sôi sục long căm thù quân giặc. Ý chí bất khuất kiên cường ấy giúp cho con người lướt thẳng mọi trở ngại, khó khăn.

“Bài thơ về tiểu đội xe không kính” là một bài thơ hay, đặc sắc của Phạm Tiến Duật. Chẳng ngẫu nhiên mà nhà thơ đ đặt tên cho tác phẩm là “Bài thơ về tiểu đội xe không kính”. Chất thơ tỏa ra từ thực tế của cuộc chiến đấu, từ niềm vui của người chiến sĩ trong thời đại chống Mĩ. Chất thơ toát ra từ sự giản dị, đơn sơ của ngôn từ, sự sáng tạo bất ngờ của các chi tiết, hình ảnh anh lính Cụ Hồ.

Ra đời gần ba mươi năm, bài thơ vẫn có sức truyền cảm mạnh mẽ đối người chúng ta ngày hôm nay. Cảm ơn nhà thơ đã giúp tất cả chúng ta cảm nhận sâu sắc về hình ảnh người lính lái xe một thời gian khổ mà hào hùng, đội quân mình vì quê hương, đất nước. Chúng ta là thế hệ mai sau sẽ sống tiếp nối với truyền thống hào hùng của ông cha xưa kia và để hoàn thành nhiệm vụ hôm nay. Chúng ta hãy tự do về họ, những người chiến sĩ Trường Sơn: “Ôi đất anh hùng dễ mấy mươi:

“Chìm trong khói lửa vẫn xanh tươiMưa bom, bão đạn lòng thanh thảnNhạt muối, vơi cơm miệng vẫn cười”

(Tố Hữu)

Cảm nhận của em về bài thơ Tiểu đội xe không kính (mẫu 3)

50+ mẫu Cảm nhận Bài thơ tiểu đội xe không kính | Văn mẫu lớp 9

“Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước
Mà lòng phơi phới dậy tương lai”.

(Theo chân Bác – Tố Hữu)

Câu thơ quen thuộc gợi trong lòng chúng ta biết bao suy tưởng. Hình ảnh những người trẻ tuổi từ biệt quê hương lên đường chiến đấu mãi mãi là biểu tượng đẹp của một dân tộc kiên cường, bất khuất. Chúng ta như được sống lại một thời hào hùng của dân tộc theo tiếng hát sôi nổi trẻ trung và cũng bình dị như cuộc đời người lính. Không biết đã có bao nhiêu bài thơ nói về họ – những chàng Thạch Sanh của thế kỉ hai mươi. Với Bài thơ về tiểu đội xe không kính, Phạm Tiến Duật cũng đóng góp “một tiếng hát sôi nổi trẻ trung” trong bản trường ca hào hùng ấy.

Với quan niệm “chủ yếu đi tìm cái đẹp từ trong những diễn biến sôi động của cuộc sống”, Phạm Tiến Duật đưa tất cả những chất liệu hiện thực của cuộc sống chiến trường vào trong thơ một cách tự nhiên và chân thực. Cách tiếp cận hiện thực ấy đã đem lại cho thơ Phạm Tiến Duật một giọng điệu sôi nổi, trẻ trung, hồn nhiên, hóm hỉnh, tinh nghịch mà sâu sắc.

Thơ Phạm Tiến Duật tập trung thể hiện hình ảnh thế hệ trẻ trong cuộc kháng chiến chống Mĩ qua các hình tượng người lính và cô thanh niên xung phong trên tuyến đường Trường Sơn. Ở họ là phẩm chất anh hùng, gan dạ và hết sức trẻ trung. Tinh thần của họ hoàn toàn đối lập với hoàn cảnh và vượt lên trên hiện thực cuộc chiến ác liệt. Phẩm chất ấy được thể hiện ngay đầu bài thơ:

“Không kính không phải vì xe không có kính Bom giật bom rung kính vỡ đi rồi”.

Xưa nay làm thơ, người ta kỵ đưa những hình ảnh thô vụn vào trong thơ. Để “mĩ lệ hóa” phương tiện đi lại và vận chuyển người ta thường lấy hình ảnh của “cỗ xe tam mã” (Puskin), “con tàu” (Chế Lan Viên) hay “con thuyền” (Huy Cận), “cánh buồm” (Hoàng trung Thông),… chứ không ai lại vụng về như Phạm Tiến Duật, đưa cả chiếc xe tải hết sức trần trụi vào trong thơ. Ấy lại là chiếc “xe không có kính”, bị thương ở nhiều chỗ hết sức tàn tạ. Thế mà, hình ảnh chiếc xe lập tức trở thành linh hồn của câu thơ, gây được sự chú ý của người đọc.

Câu thơ như một lời giải thích hóm hỉnh, đầy tinh nghịch. Xe vốn có kính nhưng giờ nó không còn kính nữa là bởi do bom đạn kẻ thù tàn phá. Lời thơ tự nhiên đến mức buộc người ta phải tin ngay vào sự phân bua của các chàng trai lái xe dũng cảm: “Bom giật bom rung kính vỡ mất rồi”.

Chất thơ của câu thơ hiện ra chính trong vẻ tự nhiên đến mức khó ngờ của ngôn từ. Bằng việc giải thích ấy, tác giả đã tạo ấn tượng cho người đọc một cách cụ thể và sâu sắc về hiện thực chiến tranh khốc liệt, dữ dội, về cuộc chiến đấu gian khổ mà người lính phải trải qua. Hình ảnh những chiếc xe không kính vốn chẳng hiếm trong chiến tranh. Song phải có một hồn thơ nhạy cảm, có nét tinh nghịch, ngang tàn như Phạm Tiến Duật mới phát hiện ra được, đưa nó vào thơ và trở thành biểu tượng độc đáo của thơ ca thời chống Mĩ.

Tiếp sau khung kính vỡ, hình ảnh người lính hiện lên ung dung, tự tại sau tay lái:

“Ung dung buồng lái ta ngồi, Nhìn đất, nhìn trời, nhìn thẳng”.

Nghệ thuật đảo ngữ với từ láy “ung dung” được đảo lên đầu câu thứ nhất và nghệ thuật điệp ngữ với từ “nhìn” được nhắc đi nhắc lại trong câu thơ thứ hai nhằm nhấn mạnh tư thế ung dung, bình tĩnh, tự tin của người lính lái xe. Những người chiến sĩ ấy đang ngạo nghễ ngồi trên xe, tự tin, bình tĩnh, làm chủ tình hình. Khẩu khí của họ thật mạnh mẽ: “ta”, càng làm cho những người lính ấy thêm oai phong, lẫm liệt.

Điệp ngữ “nhìn” nhấn lại đến ba lần, rõ ràng những người chiến sĩ lái xe rất cảnh giác, đôi mắt lúc nào cũng hướng thẳng đến mục tiêu, đó chính là tư thế sẵn sàng chiến đấu bất cứ lúc nào. Họ “nhìn thẳng” vào hiện thực cuộc chiến khốc liệt, nhìn thẳng vào những mất mát, hi sinh và sẵn sàng tiến tới. Họ không hề run sợ khi phải chiến đấu trong điều kiện thiếu bảo đảm, không an toàn.

Trong tư thế ung dung ấy, người lính lái xe có những cảm nhận rất riêng khi được tiếp xúc trực tiếp với thiên nhiên bên ngoài. Cả một thế giới rộng lớn tràn ngập trong buồng lái:

“Nhìn thấy gió vào xoa mắt đắng
Thấy con đường chạy thẳng vào tim
Thấy sao trời và đột ngột cánh chim
Như sa, như ùa vào buồng lái”.

Nhờ chiếc kính vỡ ấy mà họ đã cảm nhận được những cái mà trước đây dù ở rất gần họ không thể cảm nhận được. Họ thấy gió thổi cay đôi mắt, thấy con đường hiển hiện như chạy thẳng vào trong tim, thấy sao đêm sáng rực trên bầu trời và những cánh chim đột ngột lướt qua trước mặt. Tất cả cứ chực “như sa như ùa” vào buồng lái.

Tất cả được nhìn nhận một cách trìu mến thân thương chứ không phải là cản vật, là trở ngại có thể gây nguy hiểm cho người lính hay cản trở nhiệm vụ của họ. Thiên nhiên, vạn vật dường như cũng bay theo ra chiến trường. Tất cả điều này đã giúp người đọc cảm nhận được ở các anh nét hào hoa, kiêu bạc, lãng mạn và yêu đời của những người trẻ tuổi. Tất cả là hiện thực nhưng qua cảm nhận của nhà thơ đã trở thành những hình ảnh lãng mạn.

Một vẻ đẹp nữa làm nên bức chân dung tinh thần của người lính trong bài thơ chính là tinh thần lạc quan, sôi nổi, bất chấp khó khăn, nguy hiểm:

“Không có kính, ừ thì có bụi
Bụi phun tóc trắng như người già
Chưa cần rửa, phì phèo châm điếu thuốc
Nhìn nhau mặt lấm cười ha ha”.

Đường trường Sơn đâu chỉ có bụi mà ẩn chứa biết bao hiểm nguy, thách thức. Trước mọi khó khăn, nguy hiểm, các anh vẫn “cười” rồi chẳng cần lo lắng, các anh sẵn sàng chấp nhận thử thách, gian lao như thể đó là điều tất yếu. Các anh lấy cái bất biến của lòng dũng cảm, của thái độ hiên ngang để thắng lại cái vạn biến của chiến trường sinh tử gian khổ, ác liệt. Đó cũng là khí thế bao trùm của Bài thơ về tiểu đội xe không kính.

Cuộc sống có thể ngắn ngủi nhưng tình yêu tổ quốc là trường cửu. Bước vào trận chiến là họ đã sẵn sàng hi sinh thế nên những khó khăn, vất vả đối với họ chỉ là như cơn gió bụi thoảng qua, không hề khiến họ bận tâm.

Đọc những câu thơ này giúp ta hiểu được phần nào cuộc sống của người lính ngoài chiến trường những năm tháng đánh Mỹ. Đó là cuộc sống gian khổ trong bom đạn ác liệt nhưng tràn đầy tinh thần lạc quan, niêm vui sôi nổi, yêu đời Họ chẳng những thân thiện chấp nhận những thiếu thốn về vật chất mà còn biết biến những khó khăn đó thành trò đùa vui thú. Cuộc đời quân ngũ gian khổ của họ tuy vật chất thiếu thốn nhưng tinh thần lúc nào cũng dâng đầy niềm lạc quan phơi phới, đó chính là lòng hăng hái và nhiệt tình của tuổi trẻ Việt Nam.

Những khó khăn cứ trùng trùng tiếp diễn. Nhưng càng khó khăn, người lính lại càng tỏa sáng:

“Không có kính, ừ thì ướt áo
Mưa tuôn mưa xối như ngoài trời”.

Ngồi trong xe mà “mưa tuôn mưa xối” chẳng khác gì ngoài trời, cơn mưa Trường Sơn có khác gì ngàn lưỡi dao nhọn cứa vào da thịt người chiến sĩ. Vậy mà vẫn cái giọng điệu ngang tàn, bất chấp, những người lính xem thử thách của thiên nhiên là con số không, họ cứ tiếp tục công việc của mình và chẳng một chút bận tâm tới:

“Chưa cần thay, lái trăm cây số nữa
Mưa ngừng, gió lùa khô mau thôi”.

Sâu sắc hơn, bằng ống kính điện ảnh của người nghệ sĩ, nhà thơ đã ghi lại những khoảnh khắc đẹp đẽ thể hiện tình đồng chí đồng đội của những người lính lái xe không kính. Họ thuộc những tiểu đội vận tải khác nhau nhưng giờ gặp nhau trên tuyến đường này, cùng chung nhiệm vụ chiến đấu, cùng không có kính, họp lại là làm thành một tiểu đội mới:

“Những chiếc xe từ trong bom rơi
Đã về đây họp thành tiểu đội
Gặp bè bạn suốt dọc đường đi tới
Bắt tay qua cửa kính vỡ rồi”.

Chính sự khốc liệt của chiến tranh đã tạo nên tiểu đội xe không kính. Cái “bắt tay” thật đặc biệt: “bắt tay qua cửa kính vỡ rồi”. Xe không kính lại trở thành điều kiện thuận lợi để các anh thể hiện tình cảm. Cái bắt tay thể hiện niềm tin, truyền cho nhau nghị lực, làm tăng cường sức mạnh tinh thần, bù đắp tinh thần cho những thiếu thốn về vật chất mà họ phải chịu đựng.

Câu thơ có sự gặp gỡ với ý thơ của Chính Hữu trong bài thơ Đồng chí: “Thương nhau tay nắm lấy bàn tay” nhưng hồn nhiên hơn, trẻ trung hơn. Đó là quá trình trưởng thành của thơ ca, của quân đội Việt Nam trong hai cuộc kháng chiến trường kì của dân tộc.

Tình đồng chí, đồng đội còn được thể hiện một cách ấm áp, giản dị qua những giờ phút sinh hoạt của họ:

“Bếp Hoàng Cầm ta dựng giữa trời
Chung bát đũa nghĩa là gia đình đấy
Võng mắc chông chênh đường xe chạy
Lại đi, lại đi trời xanh thêm”.

Thật hết sức đơn giản và hồn nhiên rất lính. Chỉ cần cùng “chung bát đũa”, cùng ăn với nhau một bữa cơm thân tình giữa chiến trường là chung một gia đình. Họ đã vượt qua cái cá nhân hướng về tổ quốc. Họ xem nhau như người thân và đề cao trách nhiệm của mình.

Một tình cảm gắn kết nảy nở hết sức tự nhiên và sâu đậm giữa những con người hoàn toàn xa lạ. Tình cảm thiêng liêng ấy chỉ có thể có ở những người lính kháng chiến Việt Nam thời kì kháng chiến. Toàn dân tộc lúc này là một gia đình lớn, cùng chung công góp của, sẵn sàng chiến đấu và hi sinh vì độc lập tự do của tổ quốc.

Điệp ngữ “lại đi” và hình ảnh “trời xanh thêm” tạo âm hưởng thanh thản, nhẹ nhàng, thể hiện niềm lạc quan, tin tưởng của người lính về sự tất thắng của cuộc kháng chiến chống Mỹ. Câu thơ trong vắt như tâm hồn người chiến sĩ, như khát vọng, tình yêu họ gửi lại cho cuộc đời. Những chiếc xe không kính ấy “lại đi”, không bao giờ ngừng nghỉ.

Ở khổ thơ cuối, hình ảnh chiếc xe mới thực sự hiện lên đầy đủ. Nó không khỏi làm cho người đọc bất ngờ, sửng sốt:

“Không có kính, rồi xe không có đèn
Không có mui xe, thùng xe có xước”.

Không những chiếc xe không có kính mà cũng không có đèn, không có mui xe, thùng xe không còn nguyên vẹn. Kết hợp sự miêu ta, ta hình dung dường như chiếc xe chỉ còn có khung xe và động cơ mà thôi. Thế nhưng, dù chỉ còn có thế thì xe vẫn cứ chạy vì miền Nam phía trước. Vì đồng bào và chiến sĩ miền Nam, vì công cuộc đấu tranh giải phóng nước nhà, chiếc xe kiên trung vẫn cứ tiến lên phía trước:

“Xe vẫn chạy vì miền Nam phía trước.
Chỉ cần trong xe có một trái tim”.

Có lẽ đây là dòng thơ xúc động nhất, đáng quý nhất. Thật kì lạ, trái tim sôi nổi người chiến sĩ cũng chính là trái tim của xe. Với biện pháp hoán dụ, hình ảnh “trái tim” càng thêm rực rỡ. Đó là trái tim trung thành với Tổ Quốc, với cuộc sống cách mạng của dân tộc; đó là trái tim yêu thương đồng bào, yêu thương những người anh em miền Nam còn đang trong nước sôi lửa bỏng; đó là trái tim quyết đánh đuổi đế quốc Mỹ, thống nhất đất nước, đem lại hòa bình cho nhân dân; cũng chính là trái tim đang rạo rực, sôi sục trong lòng mỗi người chiến sĩ lái xe không kính.

Yêu thương, căm thù chính là động lực thôi thúc những người chiến sĩ lái xe khát khao giải phóng miền Nam thống nhất đất nước. Đó cũng là nguyện vọng của toàn dân tộc ta. Để ước mơ này trở thành hiện thực, chỉ có một cách duy nhất: vững vàng tay lái, cầm chắc vô lăng. Vì miền nam ruột thịt, vì tổ quốc dù có hi sinh nào đi nữa các anh vẫn không hề run sợ. Đằng sau những ý nghĩa ấy, câu thơ còn muốn hướng con người về chân lý thời đại của chúng ta: sức mạnh quyết định chiến thắng không phải là vũ khí mà là con người giàu ý chí, anh hùng, lạc quan, quyết thắng.

“Trường Sơn đông nắng tây mưa
Ai chưa đến đó như chưa rõ mình”.

Tuổi trẻ thế hệ Bác Hồ đã chọn Trường Sơn là trường đại học để rèn luyện và trưởng thành. Cuộc đời quân ngũ gian lao, nhọc nhằn đã được lấp đầy bằng tiếng cười đùa vui nhộn, bởi họ lúc nào cũng lạc quan phơi phới, hừng hực nhiệt huyết tuổi trẻ, lòng yêu nước nồng nàn, tinh thần đồng đội keo sơn gắn bó, tinh thần chiến đấu tự tin, lòng dũng cảm…

Với những phẩm chất cao đẹp đó, họ đã để lại trong lòng người đọc những ấn tượng sâu sắc, những thiện cảm đến tuyệt vời! Họ mãi là những pho tượng đồng bất khuất làm nên chủ nghĩa anh hùng cách mạng của thời đại: Dám đánh Mỹ, không sợ Mỹ, quyết thắng Mỹ. Họ chính là những con người ưu tú của dân tộc đã chiến đấu và sẵn sàng hi sinh để Tổ Quốc mãi mãi “bay lên ngát xanh mùa xuân”.

Cảm nhận của em về bài thơ Tiểu đội xe không kính (mẫu 4)

Phạm Tiến Duật là nhà thơ trẻ trưởng thành trong thời kì kháng chiến chống Mĩ cứu nước. Giọng thơ sôi nổi, hồn nhiên trẻ trung tinh nghịch mà sâu sắc, thơ Phạm Tiến Duật tập trung thể hiện thành công hình tượng người lính và những cô thanh niên xung phong trên tuyến đường Trường Sơn, những con người anh hùng của thời đại anh hùng. Bài thơ về tiểu đội xe không kính được viết năm 1969, khi cuộc kháng chiến chống Mĩ diễn ra ác liệt trên tuyến đường Trường Sơn.

Mở đầu bài thơ lời giới thiệu hóm hỉnh về những chiếc xe không kính: “Không có kính không phải vì xe không có kính”. Câu thơ mang dáng dấp như một câu văn xuôi, một lời giải thích chân thành. Xe không kính không phải do đặc điểm cấu tạo mà trước đây nó vẫn có kính đấy chứ. Người lính giải thích nguyên nhân vì sao từ có kính trở thành không kính: “Bom giật bom rung kính vỡ đi rồi”.

Chiến trường ác liệt đạn bom được thể hiện bằng hai động từ mạnh “giật, rung” để diễn tả sự tàn phá khốc liệt của bom đạn Mĩ. Hình ảnh chân thực của những chiếc xe trên đường ra trận vừa thể hiện sự cam go khốc liệt của chiến tranh vừa đậm vẻ đẹp của người chiến sĩ.

Trên nền cảnh dữ dội, hình ảnh người chiến sĩ xuất hiện với tư thế hiên ngang lái xe ra trận:

Ung dung buồng lái ta ngồiNhìn đất, nhìn trời, nhìn thẳng

Câu thơ đảo trật tự cú pháp, đưa tính từ “ung dung” lên đầu nhằm tô đậm tư thế, tâm trạng đầy lạc quan và quyết tâm hoàn thành nhiệm vụ của người lính lái xe. Các anh “nhìn thẳng” vào sự thật, nhìn thẳng vào cuộc chiến. Đó là cái nhìn quả cảm, đầy can đảm khi trực diện mà không hề né tránh, run sợ trước cái chết.

Lái những chiếc xe không kính, người chiến sĩ lái xe gặp bao nhiêu khó khăn nhưng họ đã biến khó khăn kia thành niềm vui, niềm lãng mạn:

Nhìn gió vào xoa mật đắngNhìn thấy con đường chạy thẳng vào timThấy sao trời và đột ngột cánh chimNhư sa như ùa vào buồng lái

Bằng cảm hứng lãng mạn bay bổng, giọng thơ vút cao khi sà xuống đất. Nhịp thơ dồn dập khoẻ khoắn tràn đầy niềm vui. Điệp ngữ “nhìn thấy” liên tiếp như mở ra cái nhìn thích thú bao quát của núi rừng Trường Sơn trong đôi mắt các anh nhìn. Ngọn gió vô hình được nhân hoá như bàn tay người mẹ thiên nhiên, xoa đi đôi mắt đắng vì thiếu ngủ của các anh lính lái xe ròng rã đêm ngày. Biểu tượng “con đường chạy thẳng vào tim” vừa mang nghĩa thực, vừa là ẩn dụ tượng trưng cho con đường lí tưởng thời chống Mĩ. Tư thế người lính hoàn toàn làm chủ hoàn cảnh, ung dung tự tại giữa đất trời.

Không có kính lại hoá hay để thiên nhiên và người lính càng thêm chan hoà, gần gũi. Khó khăn kia đã mang lại cho người lính niềm vui, phút lãng mạng mộng mơ với ánh sao và cánh chân trời.

Hình ảnh người lính hiện lên thật tinh nghịch, hóm hỉnh và rất trẻ trung khi tiếp tục đối diện với những gian khổ khác trên đường ra mặt trận:

Không có kính, ừ thì có bụiBụi phun tóc trắng như người giàChưa cần rửa thì phì phèo châm điếu thuốcNhìn nhau mặt lấm cười ha ha

Khẩu khí ngang tàng, đậm chất lính với kiểu nói “Ừ thì” rất lính. Đó là cách nói khẩu ngữ được đưa vào thơ như các anh sẵn sàng chấp nhận mọi thách thức, lạc quan yêu đời, phớt lờ mọi khó khăn, động viên đồng đội. Khó khăn càng tăng tiến, sau gió bụi là những cơn mưa xối xả của Trường Sơn:

Không có kính, ừ thì ướt áoMưa tuôn, mưa xối như ngoài trờiChưa cần thay lái trăm cây số nữaMưa ngừng, gió lùa khô mau thôi

Giọng thơ rộn rã, tràn đầy sức sống sôi nổi của tuổi mười tám đôi mươi. Lạ kỳ thay, sự khắc nghiệt của khí hậu Trường Sơn lại là cơ hội để các anh tranh thủ kẻ thù lái nhanh hơn, rút gần khoảng cách Bắc – Nam.

Chân dung người lính vừa tinh nghịch vừa ngạo nghễ, ngang tàng. Họ có ý chí vững như thép, có lòng quyết tâm bằng mọi giá phải tiến về giải phóng Miền Nam. Điều đó khiến họ biến gian khổ thành niềm vui, khó khăn thành thuận lợi. Vượt qua “hàng rào lửa” “tọa độ chết” những đoàn xe xanh lá cây rừng đêm ngày vun vút lao đi tiến vào Miền Nam. Tràn ngập trong thơ là sức nặng là những trái tim tràn đầy nhiệt huyết của tuổi trẻ.

Hình ảnh tiểu đội xe không kính xuất hiện sau với bao mất mát, hy sinh hòa thắm trong tình cảm gắn kết của đồng đội trên mọi nẻo đường xe qua:

Những chiếc xe từ trong bom rơiĐã về đây họp thành tiểu đội

Hình ảnh “những chiếc xe” xuất hiện sau một chặng đường dài gian khổ như khắc sâu ý nghĩa: không kẻ thù nào cản được bước tiến của đoàn xe. Vượt qua đạn bom, mưa gió, những chiếc xe vẫn tồn tại như ý chí, tinh thần thép của quân đội ta mãi vững vàng không kẻ thù nào ngăn chặn nổi.

Không gian “từ trong bom rơi” là toạ độ chết của “hàng rào lửa”. Hàng ngày máy bay Mỹ ném bom dữ dội cho nên mất mát hy sinh là điều không thể tránh khỏi. Vì thế, sau mỗi trận bom rơi, lại có một tiểu đội mới ra đời. Đây là sức mạnh tiếp nối của biết bao thế hệ. Tình đồng đội thắm thiết trong cái bắt tay tin cậy.

Gặp bè bạn suốt dọc đường đi tớiBắt tay qua cửa kính vỡ rồi

Hình ảnh “con đường đi tới” trong thơ mang ý nghĩa hình tượng cho con đường lí tưởng, cho quyết tâm giải phóng Miền Nam của các anh chiến sĩ Trường Sơn. Đường Trường Sơn là con đường thẳng tiến. Nơi đây gian khổ thử thách con người. Nơi không có dấu chân của những kẻ ham sống, sợ chết. Nơi tuổi trẻ cùng hẹn nhau ra trận với niềm vui phơi phới. Bởi vậy, gặp nhau tại đây, họ hiểu họ là những người đồng chí của nhau. Cho nên, cái bắt tay thay cho lời chào đồng đội. Cái bắt tay kia truyền cho nhau bao sức mạnh niềm tin. “Cửa kính vỡ” là hiện thực khốc liệt của bom đạn nhưng nó lại làm cho người lính gần nhau hơn. Nó là chứng nhân cho tình đồng chí thắm thiết. Tình đồng đội là cách định nghĩa giản đơn về “gia đình đồng đội” yêu thương:

Bếp hoàng cầm ta dựng giữa trờiChung bát đũa nghĩa là gia đình đấy!

Thơ lấy chất liệu từ hiện thực chiến trường. Chi tiết “bếp Hoàng Cầm” là chiếc bếp nuôi quân do người anh nuôi Hoàng Cầm sáng tạo. Chiếc bếp hiên ngang dựng giữa trời với ngọn lửa hồng ấm áp như thách thức quân thù. Nó thể hiện sự thông minh, sáng tạo của chiến sĩ ta từ trong gian khổ.

Câu thơ có giọng điệu dễ thương như lời giới thiệu đầy tự hào thân thương về “gia đình đồng đội”. Với người lính, chỉ cần chung nhau một bếp lửa hồng, sẻ cho nhau bát cơm chiều, cùng hong khô chiếc áo đẫm mưa rừng là họ là họ coi nhau như tình gia đình ruột thịt. Cách định nghĩa cho thấy tâm hồn họ giản dị mà lớn lao nghĩa tình. Khi tình đồng đội có cả gia đình thì tình cảm đó càng thêm sâu đậm và ấm áp. Sau mỗi cuộc gặp gỡ, chia vui, các anh lại lên đường:

Võng mắc chông chênh đường xe chạyLại đi, lại đi đường xanh thêm.

“Chông chênh” từ láy gợi tả cảm giác chập chờn của giấc ngủ không yên khi đường hành quân vẫn ầm ầm xe chạy. Điệp ngữ “lại đi, lại đi” là khí thế, nhịp bước hành quân. “Trời xanh thêm” là hình ảnh ẩn dụ cho ước mơ và hy vọng. Càng tiến về Miền Nam, niềm tin thống nhất đất nước càng lớn dần. Đó là động lực lớn lao khích lệ các anh vững tay lái tiến công.

Trở lại với hình ảnh những chiếc xe không kính, Phạm Tiến Duật cho người đọc nhìn rõ hơn toàn bộ hình ảnh chiếc xe đã bị hủy hoại khủng khiếp bởi bom đạn của kẻ thù:

Không có kính rồi xe không có đènKhông có mui xe, thùng xe có xước

Không những xe không có kính mà xe cũng không có đèn, không có mui và thùng xe không biết bao nhiêu vết thương. Hình ảnh người lính lái xe dũng cảm kiên cường:

Xe vẫn chạy vì Miền Nam phía trướcChỉ cần trong xe có một trái tim

Phụ từ “vẫn” làm lời thơ mạnh mẽ, dứt khoát. Xe vẫn chạy. Không một trở lực nào có thể ngăn cản được tốc độ và hướng tiến của đoàn xe. Con đường phía trước “chạy thẳng vào tim”. Con đường gọi hay trái tim tha thiết gọi. Không có đèn để soi đường trong đêm tối nhưng các anh đang đi theo “ánh lửa từ trái tim mình”

Câu thơ cuối với ngữ điệu nhẹ thênh mà triết lí lại vô cùng sâu sắc “chỉ cần trong xe có một trái tim”. Trái tim, hình ảnh hoán dụ xuất hiện cuối câu thơ đầy sức biểu cảm. Trong cái cụ thể của hình ảnh đó là bao nhiêu yêu thương, căm giận, bao nhiêu mong nhớ, đợi chờ… Trái tim thắm đó là “nhãn tự” bật sáng chủ đề bài thơ, lý giải nguồn sức mạnh lớn lao giúp chúng ta thắng Mĩ. Bài thơ có kết cấu đối lập độc đáo. Đối lập giữa vô số cái “không” là một cái “có”. “Có một trái tim” là hình ảnh đầy sức biểu cảm trong bài thơ.

Cụm từ: thùng xe có xước là cách nói giảm nhẹ. Thực tế, những chiếc xe làm nhiệm vụ trên tuyến đường Trường Sơn không có chiếc nào còn nguyên vẹn thùng xe. Mui xe có vai trò bảo vệ bộ máy giờ cũng không còn nữa. và đèn xe, một bộ phận không thể thiếu của xe khi chạy đêm cũng vỡ từ bao giờ. Thế mới thấy, người lính lái xe không những phải vượt qua sự truy kích của kẻ thù mà còn điều khiển một phương tiện không đảm bảo an toàn, trên một tuyến đường hiểm nguy như Trường Sơn để hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ quả thực là phi thường. Mỗi chuyến xe trở về an toàn là một thành tích, một kì công, một chiến thắng của quân và dân ta trong cuộc chiến chống kẻ thù.

Bài thơ về tiểu đội xe không kính thể hiện sâu sắc phong cách nghệ thuật thơ của Phạm Tiến Duật. Đó là một giọng thơ hồn nhiên, tinh nghịch dí dỏm, thông minh. Bài thơ là sự kết hợp giữa hiện thực và lãng mạn, nhịp thơ sôi nổi trẻ trung, tràn đầy sức sống. Từ đó làm hiện rõ vẻ đẹp của người lính Trường Sơn hiên ngang, dũng cảm, lạc quan bất chấp mọi khó khăn, gian khổ chiến đấu vì Miền Nam, vì sự nghiệp thống nhất nước nhà.

Cảm nhận của em về bài thơ Tiểu đội xe không kính (mẫu 5)

50+ mẫu Cảm nhận Bài thơ tiểu đội xe không kính | Văn mẫu lớp 9

Phạm Tiến Duật là một trong những cái tên quen thuộc của thơ ca thời kì kháng chiến chống Mỹ, nếu hình tượng người lính trong thơ Chính Hữu mang vẻ đẹp mộc mạc, giản dị của anh lính nông dân, trong thơ Quang Dũng mang nét hào hoa, đa tình, lãng mạn của những chàng trai đất hà thành thì người lính trong thơ Phạm Tiến Duật mang vẻ đẹp của sức trẻ, tinh nghịch, hóm hỉnh lạc quan yêu đời. Bài thơ về tiểu đội xe không kính đã thể hiện rất rõ điều đó.

“Không có kính không phải vì xe không có kínhBom giật, bom rung kính vỡ đi rồiUng dung buồng lái ta ngồi,Nhìn đất, nhìn trời, nhìn thẳng”

Mở đầu đoạn thơ, điệp từ không lặp lại 3 lần nhưng mỗi lần đều mang những sắc thái khác nhau, song điều khiến người đọc ngậm ngùi ở đây là hiện thực chiến đấu gian khổ, khắc nghiệt của người lính. Bom giật bom rung, phá vỡ đi cả lớp áo bảo vệ mỏng manh nhất là tấm kính xe, còn gì khắc nghiệt và dữ dội hơn cuộc sống chiến đấu của những người lính ấy. Thế nhưng đối lập với hiện thực khó khăn, gian khổ, là tinh thần lạc quan, phong thái ung dung, tự tin, bản lĩnh của những người lính trẻ ấy. Điệp từ “nhìn” lặp lại nhiều lần, như thể hiện sự tự tin và tâm thế vững vàng trước tay lái của người chiến sĩ, đạn bom nơi chiến trường, cái chết và những khoảnh khắc ngắn ngủi được kề vai sát cánh bên nhau đã giúp họ thêm động lực, sức mạnh gấp vạn lần. Tiếng hát át tiếng bom, tiếng lòng yêu nước của họ phá tan cả âm thanh đáng sợ của tiếng súng.

“Nhìn thấy gió vào xoa mắt đắngNhìn thấy con đường chạy thẳng vào timThấy sao trời và đột ngột cánh chimNhư sa như ùa vào buồng lái”

Chặng đường hành quân gian nan là thế, nhưng tâm hồn họ vẫn đong đầy niềm vui trên cung đường hành quân, thế giới bao la, tươi đẹp như đang ùa vào tâm hồn họ, khiến cho những nỗi khó khăn phần nào vơi đi, chỉ còn lại niềm yêu đời, lạc quan vui sống.

“Không có kính, ừ thì có bụi,Bụi phun tóc trắng như người giàKhông có kính, ừ thì ướt áoMưa tuôn, mưa xối như ngoài trờiChưa cần rửa, phì phèo châm điếu thuốcNhìn nhau mặt lấm cười ha ha.Chưa cần thay, lái trăm cây số nữaMưa ngừng, gió lùa khô mau thôi”

Thay vì gục ngã chán nản trước những gian khổ khi chiến đấu trong điều kiện thiếu thốn, khó khăn, những người lính lại đem sự hài hước tinh nghịch, lạc quan để đồng hành cùng nhau, cùng trải qua những cung đường nguy hiểm, nhưng quan trọng là tinh thần bất khuất lạc quan rất đáng nể của họ. Chính vì thế nhịp thơ, nhanh, dồn dập, tươi vui như thể tiếng hát reo vang trong tâm hồn những người lính. Câu thơ như vút lên những nhịp đập vui tươi, hối hả, để cùng hăng say trên chặng đường nhọc nhằn phía trước. Để có thể cùng vượt qua khó khăn, không chỉ cần tinh thần lạc quan, mà còn cần tinh thần đồng đội, keo sơn gắn bó:

“Bắt tay qua cửa kính vỡ rồi”

Cũng là cái bắt tay, cái bắt tay qua cửa kính vỡ rồi cái bắt tay như trao truyền cho nhau thêm sức mạnh, thêm niềm tin để cùng đồng cam cộng khổ. Ta bỗng nhớ đến hình ảnh “tay nắm lấy bàn tay” trong Đồng chí của Chính Hữu nhưng nếu trong thơ Chính Hữu đó là cái bắt tay để trao cho nhau thêm hơi ấm giữa cái rét lạnh cắt da cắt thịt khắc nghiệt, thì trong thơ Phạm Tiến Duật là cái bắt tay để trao truyền sức mạnh, gắn kết niềm tin, đồng thời thể hiện sự tin tưởng giữa các đồng đội. Họ coi nhau như những người anh em ruột thịt trong gia đình, chỉ cần “chung bát đũa nghĩa là gia đình ấy”, gia đình mới mộc mạc, giản dị mà cũng ấm cúng, nghẹn ngào làm sao. Họ đồng hành cùng nhau như gia đình, và chiến đấu vì tiếng gọi thiêng liêng của tổ quốc, vì trái tim sáng mãi trong tim:

“Xe vẫn chạy vì miền Nam phía trướcChỉ cần trong xe có một trái tim”

Dù bom giật bom rung đấy, dù cửa kính nát tan, thùng xe có xước, dù sự phá hủy khủng khiếp của chiến tranh, người người lính vẫn hối hả chở những đoàn xe chạy về phía trước, để tiếp viện cho miền Nam, vì miền Nam thân yêu, ruột thịt của chúng ta. Trái tim yêu nước nhiệt thành của họ chính là năng lượng tiếp lửa cho đoàn xe chạy về phía trước, trái tim người chiến sĩ bỗng trở nên sắt đá để chiến thắng tiếng đạn bom dữ dội ngoài cung đường hành quân.

Bài thơ về tiểu đội xe không kính đã khắc họa hình tượng người lính mang nét đẹp trẻ trung, yêu đời, đó là nét đẹp rất riêng của người lính trong thơ Phạm Tiến Duật.

Cảm nhận của em về bài thơ Tiểu đội xe không kính (mẫu 6)

Những năm tháng kháng chiến chống Mỹ của dân tộc ta đã đi vào văn học, thơ ca một cách sinh động, hào hùng và đầy khí thế, trong đó nổi bật là hình ảnh của những người lính trẻ, những cô gái xung phong, những anh bộ đội cụ Hồ. “Bài thơ về tiểu đội xe không kính” của Phạm Tiến Duật viết trong thời kì ấy không chỉ có tinh thần hiên ngang, bất khuất của những người chiến sĩ trẻ mà còn có hình ảnh của những chiếc xe không kính – minh chứng cho chiến tranh tàn khốc, cho sự anh dũng, ung dung trước khó khăn, gian khổ của người lính.

Đọc nhan đề bài thơ ta có thể thấy được dụng ý của tác giả, hai chữ “bài thơ” như một sự khẳng định, nhấn mạnh rằng đây không chỉ là một bài viết về tiểu đội xe không kính mà là một bài thơ thực sự, chất thơ ấy vừa là xoa dịu hiện thực chiến tranh khốc liệt vừa thể hiện được tinh thần lạc quan, yêu đời của người chiến sĩ vút lên từ chính cuộc sống chiến đấu gian khổ. Những “chiếc xe không kính” được nhắc đến trong bài thơ là hình ảnh có thật, và chính tác giả cũng là người đã ngồi trên chiếc xe đó, nó là một sự thật trần trụi về chiến tranh khắc nghiệt và gian khổ trên tuyến đường Trường Sơn huyết mạch nối hậu phương với tiền tuyến.

“Không có kính không phải vì xe không có kínhBom giật bom rung kính vỡ đi rồi”

Những chiếc xe vốn nguyên vẹn, lành lặn và đầy đủ nhưng vì sự khốc liệt của bom đạn chiến tranh mà chẳng còn kính, trở thành những chiếc xe không kính, thế nhưng những chiếc xe không kính cũng không chỉ là không có kính mà còn thiếu thốn vô số thứ

“Không có kính, rồi xe không có đènKhông có mui xe, thùng xe có xước”

Chiếc xe vận tải trên tuyến đường Trường Sơn đã phải hứng chịu bao trận mưa bom bão đạn khiến nó trở nên biến dạng, hỏng hóc và thiếu thốn đủ thứ, có thể trong chiến tranh, những chiếc xe không kính là không hiếm lạ gì, nhưng khi những chiếc xe đó được cảm nhận bằng tâm hồn thơ nhạy cảm của Phạm Tiến Duật nó đã trở nên thật mới mẻ, khác lạ và đặc biệt. Trái ngược với sự thiếu thốn của những chiếc xe không kính là sự tràn đầy nhiệt huyết của những người lính lái xe, ngồi lái chiếc xe không kính, không đèn, không mui nhưng tâm thế người lính không hề lo lắng, sợ hãi mà ngược lại còn “Ung dung nhìn đất, nhìn trời, nhìn thẳng”. Dường như đối với họ, việc chiếc xe mất đi cái kính lại trở thành một điều tốt giúp họ được cảm nhận thế giới bên ngoài một cách chân thật nhất, gần gũi với thiên nhiên đất trời, không còn bất cứ khoảng cách hay sự ngăn cách nào:

“Nhìn thấy gió vào xoa mắt đắng…Như sa như ùa vào buồng lái”

Người lính không chỉ được cảm nhận những vẻ đẹp của thiên nhiên mà còn được trải qua những cảm giác chân thật nhất khi ngồi trước buồng lái đó là “Bụi phun tóc trắng nha người già” hay “Mưa tuôn mưa xối như ngoài trời”, quả thực chẳng có gì có thể gây trở ngại với ý chí của những người lính trẻ, họ luôn biết vượt lên nghịch cảnh, luôn vui vẻ lạc quan trong bất cứ trường hợp nào, bụi đã trắng đầu nhưng không cần rửa, vẫn ung dung châm điếu thuốc rồi “Nhìn nhau mặt lấm cười ha ha”, mưa đã ướt áo nhưng chẳng cần thay, thay làm gì vì còn lái cả trăm cây số nữa, đợi mưa ngừng, gió lùa rồi áo sẽ khô ngay. Có thể thấy người lính lái xe Trường Sơn thật hiên ngang, bất chấp mọi khó khăn, hiểm nguy, họ có một chút gì đó ngang tàng, tinh nghịch và rất sôi nổi:

“Những chiếc xe từ trong bom rơiĐã về đây họp thành tiểu đội…Võng mắc chông chênh đường xe chạyLại đi, lại đi trời xanh thêm”

Tình đồng chí đồng đội giữa những người lính thật cao đẹp, họ bắt tay nhau qua những cửa kính xe đã vỡ, họ cùng nhau nấu ăn giữa trời, rồi coi nhau như một gia đình, việc ăn ngủ đều diễn ra trên đường, điều đó không quan trọng với họ, bởi trong họ luôn thúc giục nhanh để đi, lại đi để được thấy bầu trời xanh, bầu trời của hòa bình và tự do. Tất cả những cái “không có” của chiếc xe đã không còn quan trọng, bởi cái cốt yếu để những chiếc xe có thể băng băng trên đường nằm ở trái tim, ý chí của người lính, ta cảm nhận được khí thế quyết tâm cho sự nghiệp giải phóng miền Nam thống nhất đất nước của những người lính nói riêng và toàn dân toàn quân nói chung.

“Xe vẫn chạy vì miền Nam phía trướcChỉ cần trong xe có một trái tim”

Với chất liệu thơ mang hiện thực sinh động của cuộc sống nơi chiến trường cùng những từ ngữ giàu tính khẩu ngữ, tự nhiên, tinh nghịch và khỏe khoắn, nhà thơ Phạm Tiến Duật đã khắc họa hình ảnh độc đáo về những chiếc xe không kính, làm nổi bật lên hình ảnh người lính lái xe Trường Sơn thời chống Mỹ vừa hiên ngang, lạc quan và dũng cảm, ý chí quyết tâm luôn hừng hực.

Cảm nhận của em về bài thơ Tiểu đội xe không kính (mẫu 7)

Viết về những người lính lái xe trên tuyến đường Trường Sơn trong cuộc kháng chiến chống đế quốc Mĩ của dân tộc, nhà thơ Phạm Tiến Duật đã đưa vào bài thơ của mình một hình ảnh vô cùng độc đáo mà không kém phần mới lạ, đó chính là những chiếc xe không kính. Bài thơ Bài thơ về tiểu đội xe không kính đã dựng lên được hình ảnh cao đẹp của những người lính lái xe thông qua hình ảnh của những chiếc xe không kính.

Mở đầu bài thơ, tác giả đã nói một cách đầy hài hước về những chiếc xe không kính và nguyên nhân dẫn đến tình trạng không kính ấy:

“Không có không phải xe không có kínhBom giật bom rung kính vỡ đi rồiUng dung buồng lái ta ngồiNhìn đất, nhìn trời, nhìn thẳng”

Những chiếc xe tải chuyên dùng để vận chuyển quân lương, thuốc thang, hàng tiếp viện cho miền Nam đã từng là những chiếc xe lành lặn và đầy đủ những phụ kiện tối thiểu. Nhưng do bom đạn mà quân giặc thả xuống nhằm chặn đứt con đường chi viện mà chiếc xe bị tàn phá nặng nề. Không chỉ méo mó về hình dạng mà những chiếc kính xe cũng bị vỡ. Đối lập với tình trạng của chiếc xe, những người lính lái xe vẫn hiên ngang làm nhiệm vụ với tinh thần ung dung, tự tại cùng đôi mắt vô cùng kiên định “Nhìn đất, nhìn trời, nhìn thẳng”.

“Nhìn thấy gió vào xoa mắt đắngThấy con đường chạy thẳng vào timThấy sao trời và đột ngột cánh chimNhư sa như ùa vào buồng lái”

Kính vỡ, những người lính lái xe phải làm việc trong điều kiện vô cùng khó khăn, khốc liệt. Xe chạy nhanh cho kịp hành trình mà những tấm kính bị vỡ đi rồi, vì vậy mà những người lính bị gió lùa vào khiến đôi mắt cay xè, gây cản trở tầm nhìn. Nhưng trong cái khó khăn thì tầm nhìn lí tưởng của những người lính dường như càng được mở rộng, càng sáng rõ “Thấy con đường chạy thẳng vào tim”. Những hiện tượng, sự vật của tự nhiên như cánh chim, sao trời bỗng chốc trở thành những người bạn đồng hành với những người lính trong cuộc hành trình nhiều gian lao.

“Bụi phun tóc trắng như người giàChưa cần rửa phì phèo châm điếu thuốcNhìn nhau mặt lấm cười ha ha”

Không có kính nên bụi đất bên đường cũng nhuộm trắng xóa những mái đầu xanh của người lính lái xe. Trong cái nhìn đầy lạc quan, yêu đời,những người lính lại có cách nhìn đầy hài hước về những mái đầu đầy bụi đất ấy, nhìn nó trắng xóa như tóc người già.Trong cuộc hành trình dài, những người lính vẫn có những phút giây giải lao trong chớp nhoáng, họ đã cùng nhau hút thuốc phì phèo, cùng nhau cười đùa đầy vui vẻ về những mái đầu bạc.

“Không có kính rồi xe không có đènKhông có mùi rồi thùng xe có xướcXe vẫn chạy vì miền Nam phía trướcChỉ cần trong xe có một trái tim”

Những chiếc xe bị tàn phá nghiêm trọng, không có kính, thùng xe bị xước, không có đèn- nghĩa là thiếu đi rất nhiều những phụ kiện cơ bản đảm bảo cho cuộc hành trình.Nhưng không vì vậy mà cuộc hành trình này bị gián đoạn, những chiếc xe vẫn chạy theo hành trình định sẵn, đó chính là hướng về miền Nam ruột thịt “xe vẫn chạy vì miền Nam phía trước”. Bởi trong xe có một trái tim, đây là trái tim đầy nồng nhiệt của một người con yêu nước, của một người chiến sĩ đầy kiên cường và quả cảm.

Hình ảnh những người lính hiện lên mới thật sinh động, đáng quý làm sao. Thông qua hình ảnh đầy đặc sắc của những chiếc xe không kính, Phạm tiến Duật đã đi xây dựng thành công bức tượng đài về tinh thần dũng cảm cùng sự kiên cường của những người lính lái xe trong cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước.

Xem thêm các bài văn mẫu lớp 9 hay, chọn lọc khác:

Mục lục Văn mẫu | Văn hay 9 theo từng phần:

Các loạt bài lớp 9 khác

Bạn thấy bài viết 50+ mẫu Cảm nhận Bài thơ tiểu đội xe không kính | Văn mẫu lớp 9 có khắc phục đươc vấn đề bạn tìm hiểu ko?, nếu ko hãy comment góp ý thêm về 50+ mẫu Cảm nhận Bài thơ tiểu đội xe không kính | Văn mẫu lớp 9 bên dưới để pgddttramtau.edu.vn có thể thay đổi & cải thiện nội dung tốt hơn cho các bạn nhé! Cám ơn bạn đã ghé thăm Website: pgddttramtau.edu.vn của PHÒNG GIÁO DỤC ĐÀO TẠO HUYỆN TRẠM TẤU

Nhớ để nguồn bài viết này: 50+ mẫu Cảm nhận Bài thơ tiểu đội xe không kính | Văn mẫu lớp 9 của website pgddttramtau.edu.vn

Chuyên mục: Văn học

Xem thêm bài viết hay:  50+ mẫu Nêu cảm nhận và suy nghĩ của em về tình cảm cha con trong bài Nói với con của tác giả Y Phương | Văn mẫu lớp 9

Viết một bình luận